1.Quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
…
- Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệ và quyền đối với giống cây trồng.
…”
Quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) có mục đích giúp bảo hộ sáng tạo, khuyến khích đối mới và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh. Quyền SHTT là một trong những chế định pháp lý quan trọng của nền tri thức, phản ánh trực tiếp mức độ bảo hộ đối với hoạt động sáng tạo và đầu tư. Không những thế quyền SHTT còn là công cụ điều tiết quan hệ cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững.
Quyền SHTT được chia làm 3 phần theo Khoản 1 Điều 4 Luật SHTT 2005. Đầu tiên là quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, theo khoản 1 Điều 3 Luật SHTT 2005 thì đối tượng của quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn , bản ghi âm ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tin mang chương trình được mã hóa. Quyền tác giả được bảo hộ theo nguyên tắc phát sinh tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ. Quyền liên quan đến tác giả được bảo hộ từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây hại đến quyền tác giả.
Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp có đối tượng bao gồm quyền sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý (khoản 2 Điều 3 Luật SHTT 2005). Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập dựa trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của Cục Sở hữu trí tuệ hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của của Điều ước quốc tế và Việt Nam là thành viên. Đặc biệt đối với nhãn hiệu nối tiếng, nó không phụ thuộc vào thù tục đăng ký mà được xác lập dựa trên cơ sở sử dụng, mức độ nhận biết rộng rãi của công chúng, quy định này dựa trên chuẩn mực quốc tế là công ước Paris. Ở điều 75 Luật SHTT 2005 quy định tiêu chí của một nhãn hiệu nổi tiếng. Ngoài ra, quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập dựa trên cơ sở có bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện việc bảo mật đó.
Cuối cùng, là quyền SHTT giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng do mình do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu, theo khoản 3 Điều 3 Luật SHTT 2005 thì đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu giống. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập dựa trên cơ sở quyết định cấp bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong quy định của páp luật, chỉ có chủ sở hữu mới được phép sử dụng hoặc cho phép sử dụng những đối tượng sở hữu trí tuệ tương ứng thuộc quyền của mình. Để bảo vệ lợi ích của mình và lợi ích của xã hội cho nên luật đã quy định ra một số giới hạn nhất định đối với độc quyền sở hữu trí tuệ. Hạn chế của quyền tác giả được quy định tại Điều 25 và Điều 36 Luật SHTT, hạn chế của quyền liên quan đến tác giả được quy định tại Điều 32 và Điều 33, hạn chế quyền sở hữu công nghiệp tại Điều 125 và hạn chế về quyền của giống cây trồng ở Điều 190 Luật SHTT 2005.
2.Trọng tài và giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ
Tranh chấp về SHTT có thể giải quyết bằng trọng tài nếu phát sinh từ hoạt động thương mại và các bên có thỏa thuận hợp lệ. Trong tài thương mại thường được áp dụng đối với các tranh chấp liên quan đến: hợp đồng chuyển giao quyền SHTT; tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán phí, tiền bản quyền; tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nhượng quyền thương mại và các tranh chấp có liên quan đến sử dụng, khai thác quyền SHTT trong môi trường số; tranh chấp phát sinh từ hành vi xâm phạm QSHTT; tranh chấp từ hoạt động cấp phép sử dụng hoặc khai thác đối tượng SHTT,…. Tuy nhiên, Trọng tài thương mại không có thẩm quyền xác lập, hủy bỏ hoặc tuyên vô hiệu văn bằng bảo hộ quyền SHTT bởi vì điều này là quyền độc quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc Tòa án.
Giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ bằng Trọng tài mang lại một số lợi thế sau: Tính bảo mật cao giúp cho các cá nhân tổ chức hạn chế lộ những thông tin về bí mật kinh doanh, công nghệ, sáng chế; các bên có thể lựa chọn Trọng tài viên mà có kinh nghiệm nhiều năm về Luật SHTT, đảm bảo tính chuyên môn; thủ tục linh hoạt và tính chúng thẩm của Phán quyết trọng tài, giúp rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp.
Bên cạnh những lợi thế thì Trọng tài có những hạn chế sau: Phụ thuộc vào thỏa thuận trọng tài, nếu không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không hợp lệ; hạn chế về phương pháp cưỡng chế, vì Trọng tài không có quyền áp dụng các biện pháp hành chính hoặc hình sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT và đặc biệt là khó khăn trong việc thu thập chứng cứ đối với các hành vi xâm phạm trên môi trường số hoặc xuyên biên giới.
3.Các vụ tranh chấp nổi bật về sở hữu trí tuệ
Sau đây là 2 vụ tranh chấp tiêu biểu
Một trong những vụ kiện nổi tiếng về nhãn hiệu thương mại đó là cuộc tranh chấp giữa Asanzo và Asano. Nguyên đơn là công ty TNHH Thương mại và sản xuất Đ được cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu “Asano” về nhóm hàng hóa số 7, 9, 11. Vào năm 2015 công ty Đ phát hiện trên thị trường có Công ty Cổ phần Điển tử A Việt Nam sử dụng nhãn hiệu Asanzo để gắn vào hàng hóa và dịch vụ công ty A Việt Nam như ti vi, máy lạnh, máy xay sinh tố và nhiều hàng hóa gia dụng khác với kiểu dáng, mẫu mã nhãn hiệu giống với nhãn hiệu mà Công ty Đ được bảo hộ. Cho nên công ty TNHH Thương mại và sản xuất Đ khởi kiện Công ty Cố phần điện tử A Việt Nam. Tại văn bản số 337/SHTT-TTKN ngày 06/5/2016, Cục sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ xác định: “ Tuy có sự khác biệt ở màu sắc, các chữ cái là phụ âm (thêm chữ Z) và chữ “A” được trình bày đủ nét, nhưng kết hợp chữ và hình trên vẫn tạo thành tổng thể có khả năng gây nhằm lẫn với nhãn hiệu được bảo hộ”. Từ đó Cục sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ kêts luận hành vi của bị đơn là xâm phạm quyền nhãn hiệu theo Điều 129 Luật sở hữu trí tuệ. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn và bị đơn Tòa phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm 658/2018/KDTM-ST ngày 24/5/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, buộc bị đơn chấm dứt sử dụng nhãn hiệu “Asanzo” và bồi thường cho nguyên đơn số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ thứ hai là giữ công ty TNHH dược phẩm T và công ty TNHH dược phẩm P. Công ty TNHH dược phẩm T là chủ sở hữu của nhãn hiệu “AIKIDO” bảo hộ cho sản phẩm thuộc nhóm 10 và độc quyền kiểu dáng công nghiệp “hộp cao dán”. Tháng 9/2017, tại Việt Nam, công ty P có hành vi sử dụng bao bì sản phẩm “miếng dán chườm lạnh” có kiểu dáng không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp “hộp cao dán”, đồng thời công ty TNHH dược phẩm P cũng đã sử dụng dấu hiệu “AIKIKO” để gắn lên bao bì sản phẩm, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh, tàng trữ để bán sản phẩm “miếng dán chườm lạnh”. Tòa án không chấp nhạn yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 1417/2019/KDTM-ST ngày 18/10/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án chấp nhận một phần yêu cẩu của Công ty TNHH dược phẩm T là buộc công ty TNHH dược phẩm P chấm dử hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, chấm dứt hành vi giả mạo nhãn hiệu “AIKIDO”; công ty P phải xin lỗi và cải chính công khai một số trên báo; công ty P phải trả cho Công ty T án phí phúc thẩm là 2.000.000 đồng, chi phí thuê luật sư 157.500.000 đồng.
Từ các vụ tranh chấp sở hữu trí tuệ tiêu biểu như Asano và AIKIDO có thể thấy rằng quyền sở hữu trí tuệ đang đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh và cạnh tranh trên thị trường. Việc đăng kí bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ làm giảm nguy cơ tranh chấp, thiệt hại về uy tín và lợi ích kinh tế của doanh nghiệp.
4.Bảo vệ quyền lợi của tác giả và nhà phát minh
Trong nền kinh tế hiện nay, tác giả và nhà phát minh là những chủ thể trực tiếp sáng tạo ra các giá trị trí tuệ, góp phần quan trọng vào sự phát triển khoa học, công nghệ và văn hóa – xã hội.
“Điều 18. Quyền tác giả
Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.”
Quyền lợi của tác giả và nhà phát minh được bảo hộ thông qua quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân là quyền đứng tên trên tác phẩm, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm hoặc sáng chế (Điều 19 Luật SHTT 2005). Quyền tài sản là khi tổ chức cá nhân khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ tại Điều 20 uật SHTT 2005 thì phải trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả. Việc bảo hộ như này giúp ngăn chặn hành vi sao chép, sử dụng trái phép, đồng thời tạo điều kiện để tác giả và nhà phát minh thu được lợi ích chính đáng từ thành quả lao động trí tuệ của mình.
Một số biện pháp có thể bảo vệ quyền và lợi ích của tác giả và nhà phát minh:
Biện pháp dân sự là yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệy hại.
Biện pháp hành chính là thông qua xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi, tiêu hủy hàng hóa xâm phạm quyền SHTT
Biện pháp hình sự là áp dụng đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT có tính nghiêm trọng
Biện pháp giải quyết tranh chấp như thương lượng, hòa giải và trọng tài thương mại
Tranh chấp SHTT là tranh chấp có tính xuyên biên giới vậy nên khi tranh chấp xảy ra việc lựa chọn cơ chế trọng tài là một lợi thế:
Đầu tiên, là cho phép các bên lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn để tin tưởng
Thứ hai, đảm bảo tính bảo mật đối với bí mật kinh doanh, sáng tạo và công nghệ
Thứ ba, thủ tục nhanh chóng, hiệu quả và linh hoạt
lCuối chùng, Phán quyết có tính chung thẩm và có thể được công nhận ở nước ngoài nếu vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài
5. Vai trò của chuyên gia trong giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ
Trong tranh chấp về quyền SHTT, việc giải quyết không chỉ đơn giản là dựa trên quy định pháp luật mà còn đòi hỏi người giải quyết tranh chấp phải có sự hiểu biết sâu sắc về kỹ thuật, công nghệ, nghệ thuật hoặc tập quán chuyên ngành. Vậy nên chuyên gia đóng vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính khách quan, chuyên môn, chính xác và hiệu quả trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Thứ nhất, hỗ trợ làm rõ các vấn đề chuyên môn – kỹ thuật. Nhiều tranh chấp SHTT liên quan đến chủ thể phức tạp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, phần mềm máy tính, giống cây trồng, tác phẩm nghệ thuật,… Những vấn đề như tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp, mức độ gây nhầm lẫn,…
Thứ hai, cung cấp ý kiến chuyên môn làm căn cứ cho việc ra quyết định. Ý kiến của chuyên gia dù dưới hình thức giám định SHTT, tư vấn chuyên môn điều là nguồn chứng cứ quan trọng. Xác định về có hay không hành vi xâm phạm quyền SHTT, đánh giá mức độ thiệc hại và lựa chọn biện pháp xử lý sao cho phù hợp
Thứ ba, tăng cường tính khách quan và minh bạch trong giải quyết tranh chấp. Việc tham gia của chuyên gia độc lập giúp hạn chế sự sai lệch trong việc đánh giá chứng cứ.
Thứ tư, hỗ trợ quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và hòa giải. Chuyên gia có chuyên môn, có thể giải thích cho hội đồng trọng tài, người tư vấn giúp các bên đánh giá rủi ro pháp lý.
Chuyên gia giữ vai trò quan trọng trong tranh chấp quyền sở hữu tuệ, vừa đảm bảo chính xác về mặt chuyên môn, vừa giúp cơ quan giải quyết tranh chấp đưa ra những quyết định, phán quyết công bằng.
6.Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss
Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
6.1. Điều khoản trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].** Ghi chú: *
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài **
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
6.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!