Cơ chế trọng tài, hòa giải lĩnh vực đầu tư công

Mục lục

1. Đầu tư công và những vấn đề chính liên quan 

1.1. Đầu tư công là gì ?

   Theo khoản 16 Điều 4 Luật Đầu Tư Công 2024 :”Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, nhiệm vụ, dự án và đối tượng đầu tư công khác theo quy định của Luật này.” 

   Chương trình đầu tư công là một tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Về cơ bản hoạt động đầu tư công là những hoạt động đầu tư của Nhà nước, Chính phủ nhằm mục đích vì cộng đồng, phát triển chung và nhằm sinh lợi trực tiếp như hoạt động thương mại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Chỉ những hợp đồng, thỏa thuận, giao dịch phát sinh trong quá trình thực hiện đầu tư công mới mang tính thương mại. 

1.2. Thỏa thuận trong đầu tư công

“Điều 2. Thầm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại
3. Tranh chấp giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.”

   Thỏa thuận các bên trong đầu tư công nếu có tranh chấp mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài thì được giải quyết bằng trọng tài theo luật.

   Trong đầu tư công là hoạt động đầu tư trực tiếp của nhà nước, các “thỏa thuận” không giống như trong quan hệ thương mại – dân sự (hợp đồng giữ các bên bình đẳng), mà thường gắn với cơ chế quản lý nhà nước và quan hệ giữa các cơ quan, đơn vị thực hiện dự án.  

   Nhìn chung, lĩnh vực nào cũng có những thỏa thuận, hợp đồng pháp lý để đảm bảo những rủi ro, minh bạch, công bằng. Dưới sự giám sát của Nhà nước, những thỏa thuận không chỉ là những hợp đồng giữa các bên mà còn là những quyết định chủ trương đầu tư, triển khai những dự án đầu tư có quy mô, giám sát tiến độ, tổng mức đầu tư, nguồn vốn trong và ngoài nước. Trước hết, đó là sự thống nhất về chủ trương đầu tư khi các cơ quan có thẩm quyền như Quốc hội, Chính phủ, HĐND hay UBND xem xét, phê duyệt dự án. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai, các bộ ngành và địa phương thường phải phối hợp, thỏa thuận với nhau về vấn đề dự án. Đối với các dự án có sử dụng vốn ODA hoặc vốn vay ưu đãi, thỏa thuận còn có thể hiện ở các hiệp định tài trợ quốc tế giữa Nhà nước Việt Nam và tổ chức cho vay, mang giá trị pháp lý ràng buộc theo luật quốc tế. Ngoài ra, các thỏa thuận nội bộ giữa chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các đơn vị liên quan cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện, thanh quyết toán và nghiệm thu. Như vậy thỏa thuận trong đầu tư công chính là sự thống nhất về trách nhiệm, cơ chế quản lý và nguồn lực tài chính giữa các chủ thể có thẩm quyền nhằm bảo đảm dự án phục vụ lợi ích công cộng.

2. Cơ chế giải quyết tranh chấp trong đầu tư công

   Trong hoạt động đầu tư công khi phát sinh tranh chấp, cơ chế giải quyết sẽ phụ thuộc vào bản chất quan hệ pháp lý và chủ thể tham gia. Cơ chế giải quyết khi có tranh chấp đầu tư công:

2.1. Giải quyết trong bộ máy nhà nước

   Trong lĩnh vực đầu tư công, đa số tranh chấp xuất phát từ hoạt động quản lý, phân bổ và sử dụng vốn nhà nước. Do đó, cơ chế giải quyết chủ yếu nằm trong phạm vi giám sát và xử lý của bộ máy hành chính. Cụ thể, cơ quan thanh tra, kiểm toán và cơ quan quản lý chuyên ngành (như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ) có quyền kiểm tra, phát hiện sai phạm và đưa ra kiến nghị xử lý. Các cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng biện pháp hành chính, kỷ luật hoặc bồi thường trách nhiệm vật chất. Trong trường hợp có yếu tố vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ hợp đồng hoặc thiệt hại kinh tế, tranh chấp có thể được đưa ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, căn cứ vào Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các văn bản pháp luật liên quan.

2.2. Cơ chế Trọng tài thương mại

   Mặc dù đầu tư công không phải là hoạt động thương mại, song trong quá trình triển khai dự án thường phát sinh nhiều hợp đồng có tính chất thương mại, tạo ra mối liên hệ với trọng tài thương mại. Chẳng hạn, các hợp đồng xây dựng (EPC, BOT), hợp đồng mua sắm thiết bị, hợp đồng tư vấn – giám sát, hợp đồng cung ứng dịch vụ… được ký kết giữa chủ đầu tư (cơ quan nhà nước, ban quản lý dự án) với nhà thầu, nhà đầu tư trong nước hoặc quốc tế.    Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại 2010, thì khi phát sinh tranh chấp, các bên có thể lựa chọn trung tâm trọng tài trong nước (như VIAC, BBIAC) hoặc trọng tài quốc tế (ICC, UNCITRAL, ICSID đối với các dự án ODA hoặc hợp đồng có yếu tố nước ngoài). Điều này cho thấy, mặc dù hoạt động cốt lõi của đầu tư công mang tính phi thương mại, nhưng các hợp đồng phụ trợ gắn liền với dự án lại chịu sự chi phối của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

Cơ chế trọng tài, hòa giải lĩnh vực đầu tư công
Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC)

3. Thỏa thuận trọng tài trong đầu tư công

   Trong cơ chế trọng tài thương mại, những dự án đầu tư công có phát sinh những những hợp đồng, thỏa thuận có tính chất thương mại. Thỏa thuận trọng tài xuất hiện nhiều trong quá trình triển khai dự án đầu tư công như các hợp đồng thương mại, hợp đồng cung ứng dịch vụ,…Chính trong các những hợp đồng này, các bên thỏa thuận chọn trọng tài thương mại làm cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật trọng tài thương mị 2010.

   Đặc biệt, với các dự án có vốn ODA hoặc vốn vay quốc tế, hiệp định tài trợ thường kèm theo điều khoản trọng tài quốc tế (ICSID, ICC, UNCITRAL) để bảo đảm tính khách quan và minh bạch. Như vậy, thỏa thuận trọng tài trong đầu tư công không gắn trực tiếp với quyết định hành chính về chủ trương hay phân bổ vốn, mà chủ yếu thể hiện ở các hợp đồng phụ trợ giữa cơ quan nhà nước,và những loại hợp đồng đầu tư có yếu tố nước ngoài, ban quản lý dự án và các nhà thầu, đối tác trong nước hoặc quốc tế, qua đó tạo cầu nối giữa quản lý công và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại hiện đại.

4. Hòa giải thương mại trong đầu tư công

   Trong lĩnh vực đầu tư công, bên cạnh cơ chế hành chính và tư pháp, hòa giải thương mại được xem là phương thức hữu hiệu để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng phụ trợ như xây dựng, mua sắm, cung cấp dịch vụ tư vấn hoặc các dự án PPP có yếu tố thương mại. Theo Điều 317 Luật Thương mại 2005, hòa giải là một trong những hình thức giải quyết tranh chấp thương mại, trong đó các bên có thể thỏa thuận chọn cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân làm trung gian hòa giải. Nghị định 22/2017/NĐ-CP đã cụ thể hóa cơ chế này, xác định hòa giải thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên thỏa thuận của các bên, có sự hỗ trợ của hòa giải viên thương mại. Đặc biệt, khoản 1 Điều 6 của Nghị định cho phép các bên thỏa thuận hòa giải tại bất kỳ thời điểm nào, trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh, thông qua điều khoản hòa giải trong hợp đồng hoặc bằng thỏa thuận riêng biệt.

   Các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 4 như tự nguyện, bình đẳng, bảo mật thông tin và tuân thủ pháp luật bảo đảm tính minh bạch, khách quan và hiệu lực pháp lý của thỏa thuận hòa giải. Trong bối cảnh đầu tư công, áp dụng hòa giải thương mại không chỉ giúp giảm thiểu xung đột, tiết kiệm chi phí và thời gian so với tố tụng, mà còn tạo dựng môi trường đầu tư ổn định, minh bạch, nâng cao niềm tin của nhà thầu và đối tác quốc tế. Như vậy, hòa giải thương mại có thể xem là cầu nối giữa tính chất công của hoạt động đầu tư công và yêu cầu linh hoạt của quan hệ thương mại phát sinh từ các hợp đồng liên quan.

5. Kết luận, kiến nghị

   Đầu tư công giữ vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế – xã hội, song đặc thù là gắn liền với nhiều quan hệ pháp lý đa dạng, vừa mang tính công vừa mang tính thương mại. Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp cần được phân tầng: từ giám sát, thanh tra trong nội bộ nhà nước đến cơ chế tư pháp, trọng tài và hòa giải thương mại. Thực tiễn cho thấy, việc lồng ghép thỏa thuận trọng tài và hòa giải thương mại vào các hợp đồng phụ trợ của dự án đầu tư công không chỉ bảo đảm quyền và lợi ích của các bên, mà còn tạo điều kiện cho quá trình giải quyết tranh chấp minh bạch, hiệu quả và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Vì vậy, kiến nghị đặt ra là: 

(i) Cần hoàn thiện cơ chế pháp lý để khuyến khích áp dụng trọng tài và hòa giải thương mại trong các hợp đồng liên quan đến đầu tư công; 

(ii) Tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp phi tư pháp, đặc biệt là trọng tài và hòa giải viên thương mại; 

(iii) Phổ biến và đào tạo cho cán bộ quản lý dự án, nhà thầu, nhà đầu tư về kỹ năng thỏa thuận và thực hiện các cơ chế giải quyết tranh chấp hiện đại. Điều này sẽ góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý vốn nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả và uy tín của môi trường đầu tư Việt Nam.

6. Cách để giải quyết tranh chấp bằng trung tâm trọng tài thương mại quốc tế BIGBOSS

Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau: 

6.1. Điều khoản trọng tài mẫu

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung: 

(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].

(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia]. 

(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].* 

(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].** Ghi chú: * 

Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài ** 

Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

6.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:

(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].

(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*

(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **

Ghi chú:

* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài

** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!

Tin liên quan
.
Lên đầu trang

Đăng tài liệu

TIÊU ĐỀ BÀI ĐĂNG
NỘI DUNG BÀI ĐĂNG
tải tệp lên (chỉ pdf)
Maximum file size: 512 MB