1. Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ
Trên cơ sở lý luận, tài sản trí tuệ là những sản phẩm được tạo ra từ quá trình nghiên cứu, lao động trí óc của con người mang những giá trị về văn hoá nghệ thuật, khoa học công nghệ, kinh doanh thương mại. Vậy nên quyền sở hữu trí tuệ được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo ra, xác lập, sử dụng và định đoạt các đối tượng SHTT theo cách khách quan. Về chủ quan thì quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức với đối tượng sở hữu trí tuệ.
Theo quy định pháp luật, tại khoản 1 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ quy định như sau:
“Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.”
Vai trò của việc công nhận quyền sở hữu trí tuệ:
- Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, đổi mới trong tất cả các lĩnh vực;
- Thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh trong thị trường, tạo sự thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại trong nước và quốc tế;
- Thúc đẩy đầu tư trong nước và nước ngoài, khuyến khích phổ biến và chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
2. Tranh chấp về chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ là quá trình mà chủ sở hữu quyền sử dụng tài sản trí tuệ, hay bên giao quyền, chấp nhận cho một tổ chức hoặc cá nhân khác, hay bên nhận quyền, khai thác và sử dụng một hoặc một số quyền liên quan đến tài sản trí tuệ đó.
- Chuyển giao về quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật sở hữu trí tuệ:
“Chuyển quyền sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan là việc chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng có thời hạn một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20, khoản 3 Điều 29, khoản 1 Điều 30 và khoản 1 Điều 31 của Luật này.”
- Chuyển giao về quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp được quy định tại khoản 1 Điều 141 Luật sở hữu trí tuệ:
“Chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp là việc chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp thuộc phạm vi quyền sử dụng của mình.”
Tranh chấp trong việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ là những xung đột, bất đồng ý kiến của các bên trong hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng đối với các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ. Là sự mâu thuẫn, xung đột, bất đồng ý kiến về quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ sở hữu trí tuệ như quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghệ. quyền đối với giống cây trồng.
3. Lựa chọn sử dụng Trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp trong chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ
Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ được giao thể có thể nhằm mục đích thương mại đến từ các bên hoặc từ một trong các bên của hợp đồng. Vì vậy khi xảy ra tranh chấp thì mối quan hệ các bên hợp đồng được điều chỉnh bởi Pháp luật về thương mại hoặc Bộ luật dân sự của Việt Nam.
Để giải quyết tranh chấp các bên có thể lựa chọn các hình thức được liệt kê tại Điều 317 Luật thương mại 2005:
“1. Thương lượng giữa các bên.
2. Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.
3.Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.
Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toà án được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luật quy định.”
Trong đó, hình thức giải quyết tranh chấp tại các Trung tâm trọng tài ngày càng được phổ biến trong thực trạng hiện nay ở Việt Nam. Theo thống kê của Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh, từ năm 2016 đến nay, các trung tâm trọng tài thương mại trên địa bàn thành phố đã tiếp nhận và giải quyết hơn 11.150 vụ việc về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ. Sở dĩ nhiều cá nhân, tổ chức lựa chọn hình thức này là bởi thủ tục tố tụng trọng tài được tiến hành linh hoạt, đơn giản hơn so với quy trình tại Tòa án, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho các bên. Đặc biệt, phán quyết trọng tài có tính chính xác, khách quan cao và mang giá trị “chung thẩm”, tức là sau khi được ban hành, vụ việc sẽ không bị xét xử lại bởi bất kỳ cơ quan nào khác, ngoại trừ trường hợp phán quyết bị hủy theo quy định pháp luật. Nhờ đó, phương thức trọng tài góp phần nâng cao hiệu quả và tính ổn định trong việc giải quyết tranh chấp thương mại.
Và để lựa chọn sử dụng Trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp thì các bên cần có sự thống nhất thoả thuận được ghi nhận trong hợp đồng, căn cứ theo quy định về điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại tại khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010 (LTTTM 2010) như sau:
“Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”
Theo nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại khoản 6 Điều 4 LTTTM 2010 liệt kê rằng “Phán quyết trọng tài là chung thẩm” , chính nhờ tính chung thẩm của phán quyết trọng tài mà việc giải quyết tranh chấp đạt được tính dứt khoát và ổn định cao. Song để bảo đảm quyền lợi của các bên, pháp luật vẫn quy định cơ chế xem xét hủy phán quyết trong những trường hợp đặc biệt. Khi một bên có yêu cầu, Tòa án sẽ tiến hành xem xét căn cứ hủy phán quyết theo đúng trình tự, thủ tục và thời hạn luật định nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng. Quy trình này góp phần củng cố tính minh bạch, hợp pháp và nâng cao hiệu quả thực thi phán quyết trọng tài, qua đó khẳng định ưu thế của trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh gọn, hiệu quả và có giá trị pháp lý cao.
4. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss
Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
4.1. Điều khoản Trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].** Ghi chú: *
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài **
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
4.2. Điều khoản Trọng tài mẫu áp dụng cho thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!