Mô tả:
Bài viết trình bày khái niệm, thành phần và các loại NDA thường gặp, đồng thời đánh giá thực tiễn áp dụng và những khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại ở Việt Nam. Đồng thời, phân tích toàn diện về cơ sở pháp lý, thực tiễn sử dụng cơ chế trọng tài trong việc xử lý các tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận NDA – một loại thỏa thuận phổ biến nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh, thông tin nhạy cảm trong hoạt động thương mại. Đặc biệt, bài viết phân tích nội dung án lệ số 69 về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh.
1. Khái niệm và cơ sở pháp lý về tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin (NDA)
Thỏa thuận bảo mật thông tin ( Non-Disclosure Agreement viết tắt là NDA) là thỏa thuận bảo mật thông tin giữa các bên nhằm bảo vệ những thông tin nhạy cảm và độc quyền khỏi bị tiết lộ ra bên ngoài. Thỏa thuận này giúp ngăn chặn việc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba mà không có sự đồng ý của bên cung cấp thông tin.
Thỏa thuận bảo mật thông tin là một công cụ quan trọng trong các giao dịch thương mại giúp các doanh nghiệp và cá nhân bảo vệ tài sản trí tuệ và thông tin quan trọng. NDA có thể được ký kết giữa các bên như công ty, đối tác kinh doanh hoặc nhân viên. Ngoài ra, thỏa thuận bảo mật thông tin còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như: thỏa thuận bảo mật (Confidentiality Agreement – CA), thỏa thuận tiết lộ bí mật (Confidential Disclosure Agreement – CDA), thỏa thuận thông tin độc quyền (Proprietary Information Agreement – PIA), thỏa thuận bí mật (Secrecy Agreement – SA).
2. Thành phần và các loại thỏa thuận bảo mật thông tin (NDA)
2.1 Các thành phần chính của NDA:
Một thỏa thuận bảo mật thông tin thường có các thành phần cơ bản sau:
+ Thông tin bảo mật: Xác định rõ những thông tin nào được coi là bí mật và cần bảo vệ, bao gồm bí mật thương mại, dữ liệu tài chính, thông tin khách hàng, v.v.
+ Thời hạn và chấm dứt: Quy định thời gian hiệu lực của thỏa thuận và các điều kiện để kết thúc thỏa thuận. Có thể bao gồm thời điểm cụ thể hoặc khi kết thúc mối quan hệ kinh doanh.
+ Nghĩa vụ của các bên: Xác định rõ trách nhiệm của bên nhận thông tin, bao gồm việc giữ bí mật và không sử dụng thông tin ngoài mục đích đã thỏa thuận.
+ Biện pháp pháp lý: Quy định các biện pháp xử lý nếu một trong các bên vi phạm thỏa thuận, bao gồm bồi thường thiệt hại hoặc lệnh cấm phù hợp.
2.2 Các loại thỏa thuận bảo mật thông tin (NDA)
Có nhiều tiêu chí để phân loại thỏa thuận NDA, trong đó phổ biến nhất là phân loại thỏa thuận NDA dựa vào các bên tham gia. Theo đó, có 3 loại thỏa thuận bảo mật thông tin (NDA) sau đây:
+ Thỏa thuận bảo mật thông tin đơn phương: Thỏa thuận trong đó chỉ một bên tiết lộ thông tin và yêu cầu bên kia giữ bí mật. Thường sử dụng khi một bên cần bảo vệ thông tin khi chia sẻ với nhà đầu tư, nhà thầu hoặc đối tác tiềm năng.
+ Thỏa thuận bảo mật thông tin song phương: Còn gọi là NDA chung, thỏa thuận trong đó cả hai bên cùng trao đổi và cam kết giữ bí mật thông tin của nhau. Thường dùng khi hai công ty hợp tác hoặc liên doanh.
+ Thỏa thuận bảo mật thông tin đa phương: Thỏa thuận giữa ba hoặc nhiều bên, trong đó tất cả các bên cam kết giữ bí mật thông tin của nhau. Thường sử dụng trong các giao dịch kinh doanh phức tạp.

3. Thực tiễn giải quyết trọng tài về thỏa thuận về bảo mật thông tin
Trong những năm gần đây việc sử dụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp thương mại ngày càng phổ biến tại Việt Nam, thể hiện không chỉ qua số lượng các vụ tranh chấp được giải quyết mà còn qua sự đa dạng của các lĩnh vực tranh chấp. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến thỏa thuận bảo mật thông tin (NDA) thông qua trọng tài ngày càng nhiều doanh nghiệp lựa chọn hình thức này nhờ tính bảo mật, linh hoạt và khả năng lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn phù hợp. Các tranh chấp thường xoay quanh hành vi tiết lộ hoặc sử dụng trái phép thông tin mật, đặc biệt trong các lĩnh vực như công nghệ, đầu tư, nghiên cứu và nhân sự cấp cao. Tại Việt Nam, một số vụ việc giải quyết tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) cho thấy Hội đồng Trọng tài đặc biệt quan tâm đến việc xác định phạm vi thông tin mật, chứng cứ vi phạm và thiệt hại thực tế.
Ở Việt Nam, từ sau khi có Luật Trọng tài thương mại, hoạt động trọng tài thương mại đã từng bước được củng cố và phát triển. Số lượng vụ, việc được giải quyết bằng trọng tài đang có xu hướng tăng, loại tranh chấp được trọng tài giải quyết cũng đa dạng hơn, đồng thời, chất lượng giải quyết tranh chấp ngày càng được nâng cao, hoạt động trọng tài đang dần đi theo hướng chuyên nghiệp. Hoạt động trọng tài trong thời gian qua góp phần giải quyết các tranh chấp thương mại nhanh chóng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp, giảm tải cho hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam.
Tuy nhiên, do hiện nay vẫn còn nhiều NDA được soạn thảo sơ sài, thiếu định nghĩa rõ ràng, không quy định hậu quả vi phạm hoặc không có điều khoản trọng tài phù hợp, dẫn đến khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trong khi đó, các vụ việc quốc tế như Amazon hay Waymo vs Uber cho thấy trọng tài đóng vai trò quan trọng trong việc phân định ranh giới giữa sử dụng hợp pháp và hành vi vi phạm bảo mật, đồng thời phản ánh xu hướng tăng cường yêu cầu chứng minh thiệt hại cụ thể. Để đảm bảo hiệu quả khi giải quyết tranh chấp NDA bằng trọng tài, các bên cần chú trọng soạn thảo thỏa thuận chặt chẽ, quy định rõ nội dung thông tin mật, hậu quả pháp lý khi vi phạm và điều khoản trọng tài rõ ràng, đồng thời lưu trữ đầy đủ chứng cứ để phục vụ quá trình chứng minh khi có tranh chấp phát sinh.
4. Quyền của trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp NDA
Trong bối cảnh kinh doanh hiện đại, thỏa thuận bảo mật thông tin (Non-Disclosure Agreement – NDA) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bí mật kinh doanh, dữ liệu khách hàng, quy trình kỹ thuật hoặc thông tin nhạy cảm khác của doanh nghiệp. Khi xảy ra tranh chấp liên quan đến việc vi phạm NDA, trọng tài thương mại được xem là một cơ chế giải quyết hiệu quả và linh hoạt. Tuy nhiên, để trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp NDA, cần đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Bài viết này làm rõ quyền của Hội đồng trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ NDA.
Trước hết, trọng tài chỉ có quyền giải quyết tranh chấp nếu có thỏa thuận trọng tài hợp lệ giữa các bên. Theo Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài có thể tồn tại độc lập hoặc được tích hợp vào NDA. Thỏa thuận này cần được lập bằng văn bản và thể hiện rõ ý chí của các bên trong việc đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài thay vì tòa án. Đây là điều kiện tiên quyết để xác lập quyền tài phán của trọng tài trong các vụ việc liên quan đến NDA. Một trong những điểm nổi bật của trọng tài là quyền tự xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Điều này thể hiện qua việc Hội đồng trọng tài có thể xem xét và quyết định về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, kể cả khi một bên cho rằng tranh chấp không thuộc phạm vi trọng tài (ví dụ: cho rằng đó là tranh chấp lao động). Án lệ số 69/2023/AL của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã công nhận tính độc lập của NDA với hợp đồng lao động, từ đó khẳng định rằng trọng tài có thể giải quyết tranh chấp NDA ngay cả khi tranh chấp đó phát sinh từ quan hệ việc làm đã chấm dứt.
Ngoài ra, trọng tài còn có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ thông tin mật khi tranh chấp đang trong quá trình giải quyết. Ví dụ, trong trường hợp có dấu hiệu rò rỉ thông tin bí mật, Hội đồng trọng tài có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ áp dụng các biện pháp như cấm tiết lộ, cấm chuyển giao tài sản trí tuệ, hoặc kê biên tài sản vi phạm. Điều này đặc biệt cần thiết trong các tranh chấp về thông tin nhạy cảm, công nghệ hoặc dữ liệu khách hàng. Một quyền năng cốt lõi khác là quyền ra phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm. Phán quyết của Hội đồng trọng tài không bị kháng cáo, có giá trị thi hành như bản án của tòa án và chỉ có thể bị hủy trong các trường hợp hiếm hoi theo Điều 68 Luật Trọng tài thương mại. Điều này đảm bảo tính ổn định và dứt điểm của cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài, giúp các bên tiết kiệm thời gian và bảo mật nội dung tranh chấp.
Cuối cùng, Hội đồng trọng tài có quyền xác định luật áp dụng và đánh giá độc lập nội dung tranh chấp. Trong nhiều trường hợp, các bên có yếu tố nước ngoài hoặc sử dụng NDA song ngữ, trọng tài có thể linh hoạt áp dụng luật theo thỏa thuận của các bên, hoặc trong trường hợp không có thỏa thuận, dựa vào luật có liên quan phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
5. Phân tích quy định từ nội dung Án lệ số 69
Tình huống án lệ số 69.
Người lao động và người sử dụng lao động ký kết thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh về việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động không được làm công việc tương tự hoặc công việc cạnh tranh với người sử dụng lao động trong thời hạn nhất định, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng Trọng tài thương mại.
Nội dung án lệ
[8] … Bà T. cho rằng “Tranh chấp về NDA là tranh chấp sẽ do Tòa án giải quyết ”. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại”. Công ty R là thương nhân, có đăng ký kinh doanh, có hoạt động thương mại theo Luật Thương mại năm 2005. Do đó, thỏa thuận trọng tài thuộc thẩm quyền giải quyết của VIAC và trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Nội dung này đã được Hội đồng trọng tài kết luận tại Phiên họp ngày 19/01/2018 (Phần A, trang 5 và Phần C, trang 6 của phán quyết). Khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ”.
Trong khi đó, tại Bản tự bảo vệ cũng như trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, bà T. không đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thẩm quyền của Trọng tài mà vẫn tiếp tục tố tụng trọng tài, vẫn tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp. Như vậy, bà T. đã mất quyền phản đối về thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP. Bên cạnh đó, bà T. cho rằng tranh chấp giữa các bên là tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì NDA là một phần không thể tách rời của các Hợp đồng lao động giữa bà T. và Công ty R. Tại đoạn 11 Bản luận cứ đề ngày 18/01/2018 của Luật sư bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà T tại VIAC và tại Phiên họp cuối cùng, Luật sư của bà T. đã khẳng định lại quan điểm NDA hoàn toàn độc lập với các Hợp đồng lao động giữa Công ty R và bà T.
Do đó, Hội đồng xét đơn xác định thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi ký kết
Bình luận án lệ:
– Thứ nhất, Án lệ 69 gián tiếp công nhận tính hợp pháp của thỏa thuận NCA
Trong các thảo luận về chủ đề thỏa thuận NDA, vấn đề cơ bản nhất có thể nhận thấy là về tính hợp pháp của loại thỏa thuận này. Trước khi Án lệ 69 được ban hành, thực tiễn xét xử cho thấy đường lối xét xử giữa các Tòa án tại Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất về vấn đề này. Án lệ 69 đã giải quyết được vấn đề cơ bản nhất về NDA theo hướng giải quyết đó là công nhận tính hợp pháp của loại thỏa thuận này. Như vậy, với Án lệ 69, về cơ bản, pháp luật Việt Nam đã chính thức công nhận thỏa thuận NDA là một loại thỏa thuận hợp pháp. Đây có thể xem là điểm sáng đáng ghi nhận nhất ở Án lệ 69.
– Thứ hai, Án lệ 69 khẳng định NDA là thỏa thuận độc lập với hợp đồng lao động nếu NDA đó có hiệu lực sau khi chấm dứt hợp đồng lao động. Việc công nhận hiệu lực của NDA hậu lao động ngay cả khi hợp đồng lao động bị tuyên vô hiệu là điều cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ. Nói cách khác, trừ khi chính bản thân thỏa thuận NDA vô hiệu, việc hợp đồng lao động vô hiệu không đương nhiên kéo theo thỏa thuận NDA hậu lao động cũng vô hiệu. Sự thay đổi, chấm dứt hiệu lực hay sự vô hiệu của hợp đồng lao động không làm mất đi hiệu lực của NDA hậu lao động nên NDA hậu lao động hoàn toàn độc lập với hợp đồng lao động.
Tuy nhiên, Án lệ 69 cũng tồn tại điểm bất cập, đó là việc Tòa án xác định tranh chấp về NDA thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài là không phù hợp với pháp luật hiện hành. Trong vụ việc được sử dụng làm nguồn án lệ, Tòa án xác định tranh chấp này có thể được giải quyết bằng trọng tài theo khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, từ đó gián tiếp xác định tranh chấp NCA không phải là tranh chấp lao động cá nhân vì tranh chấp lao động cá nhân không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài dựa vào Điều 200 Bộ luật Lao động 2012 (tương ứng với Điều 187 Bộ luật Lao động 2019) về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Nhận định này của Tòa án có thể nói là phù hợp với pháp luật có hiệu lực vào thời điểm giải quyết vụ việc, nhưng sẽ không thực sự phù hợp nếu xét theo pháp luật hiện hành.