1.Luật bản quyền và trọng tài thương mại
“Bản quyền” không phải là từ ngữ pháp lý chuyên dụng, nó là từ mà mọi người thường hay gọi khi nói về “Quyền tác giả”. Quyền tác giả là một phần nằm trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Nó là quyền thuộc về người đã sáng tạo hoặc sở hữu tác phẩm.
“Điều 4. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
…
2.Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
…”
Quyền tác giả bảo hộ các đối tượng bao gồm: Tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm khác được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc kí tự khác quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 14 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác: tác phẩm báo trí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự; tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ưng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc, bản họa sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, công trình khoa học; tác phẩm nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu. (Điều 14 Luật SHTT 2005). Tại điều 15 Luật SHTT 2005 cũng quy định về các đối tượng không thuộc quyền tác giả, mọi người có thể sử dụng mà không phải trả phí, chỉ cần ghi nguồn gốc thôi, đó là tin tức thời sự thuần túy đưa tin, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.
Quyền tác giả được gói gọn trong hai phần chính là quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân được quy định ở Điều 19 Luật SHTT 2005
“Điều 19. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
- Đặt tên cho tác phẩm;
- Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng;
- Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm;
- Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.”
Quyền tài sản được quy định ở Điều 20 Luật SHTT 2005
“Điều 20. Quyền tài sản
Quyền tài sản bao gồm các quyền sau đây:
a) Làm tác phẩm phái sinh;
b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;
c) Sao chép tác phẩm;
d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;
đ) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác;
e) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính. Các quyền quy định tại khoản1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo quy định của Luật này.Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả.”
Quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn theo khoản 1 Điều 27 Luật SHTT 2005. Còn quyền tài sản với quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm thì sẽ có quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật SHTT 2005. Bao gồm: Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên. Trong thời hạn năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm điện ảnh, tác phẩm sân khấu được định hình, nếu tác phẩm chưa được công bố thì thời hạn được tính từ khi tác phẩm được định hình; đối với tác phẩm khuyết danh, khi các thông tin về tác giả được xuất hiện thì thời hạn bảo hộ được tính theo quy định tại điểm b khoản này. Tác phẩm không thuộc loại hình quy định tại điểm a khoản này có thời hạn bảo hộ là suốt cuộc đời tác giả và năm mươi năm tiếp theo năm tác giả chết; trong trường hợp tác phẩm có đồng tác giả thì thời hạn bảo hộ chấm dứt vào năm thứ năm mươi sau năm đồng tác giả cuối cùng chết.Thời hạn bảo hộ quy định tại điểm a và điểm b khoản này chấm dứt vào thời điểm 24 giờ ngày 31 tháng 12 của năm chấm dứt thời hạn bảo hộ quyền tác giả.
Trong thực tế, tranh chấp về quyền tác giả hay còn gọi là bản quyền thường liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng, cấp phép quyền tác giả; hợp đồng thiết kế, phần mềm, nội dung số; tranh chấp giữa doanh nghiệp với các freelancer, agency, KOL (Key Opinion Leader – có kiến thức chuyên sâu và có sức ảnh hửng lớn trong một lĩnh vực nhất định thường được các nhãn hàng hợp tác để quảng bá sản phẩm, dịch vụ),… hay khai thác tác phẩm trên nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội. Đa số các tranh chấp về quyền tác giả nói riêng và luật sở hữu trí tuệ nói chung thì điều có mang tính hợp đồng, thương mại nên một trong những phương thức giải quyết tranh chấp được nhiều người lựa chọn là Trọng tài thương mại. Nếu muốn lựa chọn phương thức Trọng tài thương mại thì tranh chấp đó phải phát sinh từ hoạt động thương mại, có thỏa thuận trọng tài hợp lệ và có liên quan đến quyền tài sản của quyền tác giả, vì nếu như tranh chấp đó thuần túy về quyền nhân thân, về yêu cầu xử phạt hành chính hay hình sự thì nó không thuộc thẩm quyền của Trọng tài thương mại theo Luật trọng tài thương mại 2010.
“Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài
-
Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
-
Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
-
Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.”
Ưu điểm khi lựa chọn tranh chấp bằng trọng tài là tính bảo mật cao phù hợp với các tranh chấp liên quan đến công nghệ, bí mật kinh doanh hoặc tác phẩm chưa công bố. Tính chuyên môn cao khi các bên tranh chấp có thể lựa chọn những chuyên gia có sự hiểu biết sâu về vấn đề đang tranh chấp. Điều mà nổi bật nhất của thủ tục tố tụng trọng tài là tính linh hoạt, nhanh chóng và có hiệu lực quốc tế. Tuy nhiên, cũng có một số hạn chế như phân định ranh giới giữa quyền tài sản, quyền nhân thân; về thu thập chứng cứ số, điện tử (bản sao, timestamp ( dấu thời gian – dùng để theo dõi, quản lý thời gian cập nhật file hoặc bản ghi), blokchain (chuỗi khối – công nghệ lưu trữ và truyền tải dữ liệu phi tập trung, an toàn thông qua, các khối liên kết mật mã theo trình tự thời gian),…) còn nhiều vướng mắc, và khá khó khăn trong việc thu thập.
2.Quy trình giải quyết tranh chấp bản quyền qua trọng tài
Nếu muốn giải quyết tranh chấp đó bằng trọng tài thì điều kiện tiên quyết phải là tranh chấp đó được thỏa thuận trọng tài hợp lệ và phát sinh từ hoạt động thương mại.
Quy trình giải quyết tranh chấp:
Bước 1: Nộp đơn khởi kiện trọng tài; nguyên đơn sẽ gửi đơn khởi kiện đến Trung tâm trọng tài mà hai bên đã lựa chọn để giải quyết tranh chấp. Nội dung đơn bao gồm thông tin các bên, mô tả hành vi xâm phạm bản quyền, căn cứ pháp lý, yêu cầu bồi thường, chấm dứt hành vi vi phạm
Bước 2: Thành lập Hội đồng trọng tài; số lượng thành viên là số lẻ (theo thỏa thuận của hai bên), Trọng tài viên có thể là luật sư, chuyên gia pháp lý, chuyên gia về ngành nghề phát sinh tranh chấp.
Bước 3: Trao đổi bản tự bảo vệ và chứng cứ; các bên nộp bản tự bảo vệ, chứng cứ chứng minh quyền tác giả (giấy chứng nhận, hợp đồng, bản gốc tác phẩm…); chứng cứ xâm phạm (sao chép, sử dụng trái phép, doanh thu,…)
Bước 4: Phiên họp giải quyết tranh chấp; hai bên sẽ trình bày lập luận pháp lý, chuyên gia nêu ý kiến, hai bên tranh luận
Bước 5: Ra phán quyết trọng tài; phán quyết có giá trị Chung thảm, không bị kháng cáo
Bước 6: Thi hành Phán quyết trọng tài; các bên sẽ có thời gian từ nguyện thi hành nếu qua thời gian đó mà không thi hành thì người được sẽ yêu cầu Tòa án cưỡng chế thi hành hoặc nếu bị đơn không chấp nhận phán quyết đó thì có thể yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài
3.Các vụ kiện bản quyền nổi bật
Vụ kiện đầu tiên là giữa Ed Sheeran và gia đình đồng tác giả Ed Townsend về ca khúc nổi tiếng “Thinking Out Loud” với cáo buộc rằng bài hát Thinking Out Loud đã sao chép ca khúc “Let’s Get it On” của tác giả Marvin Gaye. Họ cáo buộc rằng bài hát Thinking out Loud đã sử dụng trái phép 4 hợp âm và nhịp điệu của “Let’s Get it On”. Nhưng Tòa án đã phán quyết rằng những điểm giống nhau giữa hai bài hát là không đủ để cấu thành hành vi vi phạm bản quyền và Ed Sheeran đã thắng kiện.
Vụ kiện thứ hai là một vụ án kinh điển về quyền tác giả ở Việt Nam. Tranh chấp phát sinh giữa họa sĩ Lê Linh – người trực tiếp sáng tạo nhân vật và nội dung ban đầu của bộ truyện – với Công ty Phan Thị, đơn vị phát hành truyện. Họa sĩ Lê Linh cho rằng công ty đã tiếp tục khai thác, sáng tác các phần truyện mới và sử dụng các nhân vật “Trạng Tí”, “Sửu Ẹo”, “Dần Béo”, “Cả Mẹo” mà không có sự đồng ý của ông, từ đó xâm phạm quyền tác giả. Sau quá trình tố tụng kéo dài, Tòa án đã xác định Lê Linh là tác giả duy nhất của bộ truyện Thần đồng đất Việt,về vấn đề bà Hạnh cho rằng 4 hình tượng đang tranh chấp được định hình rõ ràng trong trí óc của bà cong ông Lê Linh chỉ là người bà thuê để vật thể hóa các ý tưởng của bà ra bên ngài nên việc đề nghị là đồng tác giả là không đúng quy định pháp luật theo khoản 1 điều 13 luật SHTT. Vụ án có ý nghĩa lớn trong thực tiễn, góp phần làm rõ sự phân biệt giữa quyền tác giả và quyền khai thác thương mại, cũng như nâng cao nhận thức về việc bảo vệ quyền sáng tạo trong lĩnh vực truyện tranh và xuất bản tại Việt Nam.
4.Bảo vệ quyền lợi tác giả trong trọng tài
Thứ nhất, thiết lập thỏa thuận trọng tài rõ ràng trong hợp đồng là các bảo vệ tác giả ngay từ đầu. Trong các hợp đồng chuyển nhượng, cấp phép hoặc khai thác quyền tác giả; khi đó tác giả cần lưu ý và quy định cụ thể điều khoản trọng tài để khi phát sinh tranh chấp có thể lựa chọn trọng tài làm cơ chế giải quyết với các ưu điểm đã nêu ở phần trên.
Thứ hai, lựa chọn trọng tài viên chuyên môn, có thâm niên về quyền tác giả giúp bảo đảm tính chính xác và khách quan trong việc giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, chứng cứ đa dạng; trong quá trình tố tụng trọng tài, tác giả có thể sự dụng linh hoạt các loại chứng cứ như bản thảo gốc, file dữ liêu số, mã nguồn, hợp đồng, đăng ký quyền tác giả hoặc kết luận giám định chuyên môn để chứng minh quyền sở hữu và hành vi xâm phạm.
Thứ tư, tận dụng tính bảo mật của trọng tài để bảo vệ danh tiếng và giá trị thương mại của tác phẩm
Cuối cùng, yêu cầu các biện pháp bảo vệ phù hợp trong phán quyết trọng tài, bao gồm buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại, thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các biện pháp khắc phục đã nêu trong thỏa thuận.
5.Các biện pháp phòng ngừa tranh chấp bản quyền
Để phòng ngừa trước rủi ro bị xâm hại trong quá trình sáng tạo và khai thác tác phẩm, tác giả và chủ thể liên quan cần áp dụng các biện pháp ngay từ đầu:
Đầu tiên, đăng ký quyền tác giả là biện pháp quan trọng hằm xác lập căn cứ pháp lý rõ ràng về chủ sở hữu tác phẩm. Mặc dù quyền tác giả được bảo hộ ngay khi được vật chất hóa nhưng giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả có giá trị pháp lí cao hơn khi xảy ra tranh chấp.
Thứ hai, xây dựng hợp đồng khai thác, chuyển nhượng hoặc cấp phép quyền tác giả chặt chẽ. Hợp đồng cần quy định rõ phạm vi sử dụng, thời hạn, lãnh thổ, quyền và nghĩa vụ của các bên, cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp nhằm tranh cách hiểu khác nhau dẫn đến xung đột pháp lý.
Thứ ba, lưu giữ đầy đủ chứng cứ về quá trình sáng tạo tác phẩm, bao gồm bản thảo gốc, file thiết kế, dữ liệu số, nhật ký sáng tác, email trao đổi hoặc các tài liệu liên quan. Đây là cơ sở quan trọng để chứng minh tư cách tác giả và thời điểm hình thành tác phẩm.
Thứ tư, nâng cao nhận thức pháp lý về quyền tác giả cho cá nhân và tổ chức tham gia hoạt động sáng tạo, sản xuất và kinh doanh nội dung. Việc hiểu đúng ranh giới giữa “ý tưởng” và “hình thức thể hiện” giúp hạn chế hành vi xâm phạm quyền tác giả do thiếu hiểu biết pháp luật.
Cuối cùng, chủ động giám sát và bảo vệ quyền tác giả trên môi trường số, đặc biệt đối với các nền tảng trực tuyến. Việc theo dõi, phát hiện sớm hành vi sao chép, sử dụng trái phép và kịp thời áp dụng các biện pháp thương lượng, yêu cầu chấm dứt vi phạm sẽ góp phần ngăn ngừa tranh chấp leo thang.
6.Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss
Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
6.1. Điều khoản trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].** Ghi chú: *
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài **
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
6.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!