1. Đặc thù của tranh chấp thương mại điện tử
Thương mại điện từ Việt Nam bắt đầu hình thành từ khoảng năm 1997 khi có sự xuất hiện của Internet, những đầu năm 2000 Thương mại điện tử mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ và cột mốc đáng chú ý là vào năm 2003 Bộ Thương mại công bố báo cáo đầu tiên về Thương mại điện tử (TMĐT) và được đưa vào giảng dạy. Bởi vì đây là một ngành mới và khác biệt nên những tranh chấp liên quan đến TMĐT có những đặc thù:
Thứ nhất, tính phi biên giới và yếu tố nước ngoài cao. Thương mại điện tử là một giao dịch rất rộng, không giới bởi không gian địa lý hay cần phải gặp gỡ trực tiếp, chỉ cần bạn có internet, có giấy tờ buôn bán hợp lệ, nộp thuế đầy đủ ở các quốc gia mà bạn bán hàng nhập hàng thì bất kì ai cũng có thể mua hàng hoặc bán hàng dù có xa đến mấy. Vì vậy khi phát sinh tranh chấp sẽ kéo theo những vấn đề phức tạp như: xác định luật áp dụng, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, công nhận và thi hành phán quyết.
Thứ hai, hình thức hợp đồng và các chứng cứ liên quan chủ yếu dưới dạng điện tử. Thông thường hợp đồng điện tử thường được giao kết thông qua “click-wrap”, “browse-wrap”,email hoặc các nền tảng số. Khi tranh chấp xảy ra thì đương nhiên các chứng cứ chủ yếu là dữ liệu điện tử (email, lịch sử thanh toán, hóa đơn điện tử, tin nhắn,…) vậy nên việc thu thập, đánh giá pháp lí của chứng cứ điện tử đòi hỏi chặt chẽ và nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và tố tụng.
“Điều 34. Hợp đồng điện tử
-
Hợp đồng điện tử được giao kết hoặc thực hiện từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay vào hợp đồng.”
“Điều 9. Giá trị pháp lý như bản gốc
-
Chứng từ điện tử trong giao dịch thương mại có giá trị pháp lý như bản gốc nếu đáp ứng cả hai điều kiện sau:
-
a) Có sự bảo đảm đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử từ thời điểm thông tin được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng chứng từ điện tử;
-
b) Thông tin chứa trong chứng từ điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.
-
Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị chứng từ điện tử.
-
Tiêu chí về sự bảo đảm đủ tin cậy là khi một trong những biện pháp sau được áp dụng trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên trao đổi và sử dụng chứng từ điện tử:
-
a) Ký chứng từ điện tử bằng chữ ký số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số hợp pháp cấp;
-
b) Lưu trữ chứng từ điện tử tại hệ thống của một tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử đã được cấp phépmà các bên thỏa thuận lựa chọn;
-
c) Có sự bảo đảm từ phía thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng cho việc khởi tạo, gửi và lưu trữ chứng từ điện tử về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong chứng từ điện tử trong quá trình gửi và lưu trữ trên hệ thống;
-
d) Biện pháp khác mà các bên thống nhất lựa chọn.”
Thứ ba, chủ thể tranh chấp khá đa dạng và có sự tham gia của bên thứ ba. Ngoài bên bán và bên mua thì còn có bên thứ ba thường liên quan đến các trung gian như sàn giao dịch điện tử, đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán, logistics, hoặc nhà cung cấp nền tảng công nghệ. Điều này làm phát sinh vấn đề xác định tư cách pháp lý, phạm vi chịu trách nhiệm và quyền lợi của các bên
Thứ tư, tranh chấp phát sinh với số lượng nhiều nhưng giá trị mỗi vụ việc thường không lớn. Nhiều tranh chấp TMĐT có giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn, liên quan đến chất lượng hàng hóa, giao hàng chậm, hoàn tiền, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin. Vì vậy, các bên thường ưu tiên cơ chế giải quyết nhanh, linh hoạt và tiết kiệm chi phí như thương lượng, hòa giải trực tuyến hoặc trọng tài.
Thứ năm, yêu cầu cao về bảo mật thông tin và dữ liệu cá nhân. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, các bên phải xử lý khối lượng lớn dữ liệu kinh doanh và dữ liệu cá nhân. Điều này đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về bảo mật thông tin, tránh rò rỉ dữ liệu, đồng thời tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến an toàn thông tin và bảo vệ quyền riêng tư.
2.Quy định pháp luật về thương mại điện tử
“Điều 3. Giải thích từ ngữ
- Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác.
…”
Có thể hiểu một các đơn giản, Thương mại điện tử là hoạt động kinh doanh bằng hình thức trực tuyến, sử dụng mạng internet hoặc các mạng khác để mua bán thông qua các trang sàn giao dịch (như Shopee, Lazada, Tiktok, Tiki tại Việt Nam,..), các cửa hàng trực tuyến của thương hiệu (Zara, Nike, Samsung, IPhone,…), các ứng dụng (Grab, Shopeefood, Bee,…),…
Ngành Thương mại điện tử thật sự bùng nổ kể từ khi cách mạng Công nghiệp 4.0 xảy ra. Theo Báo cáo Thương mại điện tử Đông Nam Á 2020 của Google, Temasek và Bain & Company, thương mại điện tử Việt Nam năm 2020 tăng 16% và đạt quy mô trên 14 tỷ USD. Trong đó, lĩnh vực bán lẻ hàng hóa trực tuyến tăng 46%, gọi xe và đồ ăn công nghệ tăng 34%, tiếp thị, giải trí và trò chơi trực tuyến tăng 18%, riêng lĩnh vực du lịch trực tuyến giảm 28%. Báo cáo này cũng dự đoán tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2020-2025 là 29% và tới năm 2025 quy mô thương mại điện tử Việt Nam đạt 52 tỷ USD.
Chủ thể tham gia thương mại điện tử là theo Điều 2 Nghị định 52/2013/ND-CP
“Điều 2. Đối tượng áp dụng
-
Nghị định này áp dụng đối với các thương nhân, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm:
-
a) Thương nhân, tổ chức, cá nhân Việt Nam;
-
b) Cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam;
-
c) Thương nhân, tổ chức nước ngoài có sự hiện diện tại Việt Nam thông qua hoạt động đầu tư, lập chi nhánh, văn phòng đại diện, hoặc thiết lập website dưới tên miền Việt Nam.
-
Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông căn cứ điều kiện kinh tế, xã hội và yêu cầu quản lý của từng thời kỳ để hướng dẫn các biện pháp quản lý đối với thương nhân, tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động thương mại điện tử với chủ thể Việt Nam.”
Thông báo, đăng ký website thương mại điện tử tại cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT – Bộ Công Thương. Ngoài ra trên Website TMĐT phải công bố thông tin về chủ sở hữu (Điều 29 NĐ 52/2013), thông tin về hàng hóa dịch vụ (Điều 30 NĐ 52/2013), thông tin về giá cả (Điều 31 NĐ 52/2013), thông tin về điều kiện giao dịch chung (Điều 32 NĐ 52/2013), thông tin về vận chuyển giao hàng (Điều 33 NĐ 52/2013), thôngtin về phương thức thanh toán (Điều 34 NĐ 52/2013), thông tin về cơ chế giải quyết khiếu nại.
3.Trọng tài thương mại và giải quyết tranh chấp trực tuyến
Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp tư, chủ yêu do thỏa thuận của các bên, được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Trọng tài thương mại 2010.
Giải quyết tranh chấp trực tuyến (Online Dispute Resolution – ODR) là việc sử dụng nền tảng công nghệ thông tin để hỗ trợ hoặc thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống.
Về trình tự thủ tục thì ở Việt Nam chưa có luật nào quy định cụ thể về trình tự hủ tục của phương thức giai quyết tranh chấp trực tuyến (ODR). Vì thế, thủ tục này sẽ có 3 giai đoạn chung chung như các cách giải quyết tranh chấp khác; (1) Thương lượng giải quyết giữa các bên tranh chấp, (2) Hòa giải trực tuyến giữa các bên tranh chấp với sự tham gia của hòa giải viên, (3) xét xử vụ việc.
Trong Trọng tài thương mại, ODR có thể áp dụng ở nhiều giai đoạn như: Nộp đơn khởi kiện và tài liệu điện tử; Trao đổi ý kiến, chứng cứ qua hệ thống trực tuyến, Tổ chức phiên họp trọng tài trực tuyến, Ban hành và tống đạt phán quyết bằng phương tiện điện tử.
Trọng tài thương mại được xem là nền tảng pháp lý phù hợp nhất cho việc triển khai ODR. Bởi vì Trọng tài thương mại có tính linh hoạt về thủ tục, không gian giải quyết tranh chấp mang tính riêng tư, không bị ràng buộc cứng nhắc bởi thủ tục tố tụng truyền thông.
Việc áp dụng ODR trong Trọng tài thương mại mang lại khá nhiều lợi ích như: Tiết kiệm thời gian và chi phí tranh chấp, phù hợp với doanh nghiệp vừa và nhỏ, thuận lợi có các tranh chấp nước ngoài, bảo đảm tính riêng tư thông tin, nâng cao khả năng tiếp cận công lý trong kỷ nguyên số.
Trọng tài thương mại kết hợp với giải quyết tranh chấp trực tuyến là xu hướng tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho ODR sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, tăng cường niềm tin của doanh nghiệp và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thương mại điện tử tại Việt Nam.
4.Các vụ tranh chấp thương mại điện tử nổi bật
Năm 2019, vụ kiện giữa L’Oréal hãng mỹ phẩm nổi tiếng và Shopee một sàn thương mại điện tử chiếm lĩnh thị trường Đông Nam Á, L’Oréal cáo buộc Shopee đã trở thành một nơi chứa những kẻ buôn bán hàng giả, những sản phẩm nhái tinh vi mang thương hiệu của họ ngang nhiên được bày bán.
Năm 2020 Công ty TNHH Văn hóa – Sáng tạo Trí Việt (First News) khởi kiện Công ty TNHH Recess (chủ sở hữu của sàn thương mại điện tử Lazada Việt Nam) về việc nhiều sách giả được bán trên nền tảng này.
Tranh chấp giữa người tiêu dung và các cửa hàng trên sàn thương mại điện tử hoặc các cử hàng trực tuyến vì giao sai hàng, sai size, giao không đúng hạn hoặc hàng bị lỗi.
5.Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong thương mại điện tử
Thương mại điện tử tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch nhanh chóng, không giới hạn không gian và thời gian. Tuy nhiên, do tính phi tiếp xúc trực tiếp, phụ thuộc vào nền tảng số và bất cân xứng thông tin, người tiêu dùng thường ở vị thế yếu hơn so với thương nhân, tổ chức kinh doanh.
“4. Quyền của người tiêu dùng
…
-
Yêu cầu tổ chức, cá nhân kinh doanh bồi thường thiệt hại khi sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ không phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, không bảo đảm an toàn, đo lường, số lượng, khối lượng, chất lượng, công dụng, giá, nội dung khác theo quy định của pháp luật hoặc không đúng với đăng ký, thông báo, công bố, niêm yết, quảng cáo, giới thiệu, giao kết, cam kết của tổ chức, cá nhân kinh doanh.”
“Điều 14. Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng
-
Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó.
-
Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh.”
Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh; tại Điểm c khoản 3 Điều 26 được bổ sung tại Nghị định số 85/2021/ NĐ-CP.
Trường hợp thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ thì thương nhân, tổ chức đó là bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin theo pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
6.Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss
Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
6.1. Điều khoản trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].** Ghi chú: *
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài **
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
6.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!