Trọng tài thương mại và quy định về thẩm quyền

Trọng tài thương mại và quy định về thẩm quyền
Mục lục

1. Khái niệm

Trọng tài thương mại là phương pháp giải quyết tranh chấp do hai bên thỏa thuận và yêu cầu. Hai bên tranh chấp sẽ lựa chọn bên thứ ba (là trọng tài viên) là trung gian để đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích vốn có của các bên tranh chấp.

Thẩm quyền của trọng tài thương mại được quy định ở Điều 2 Luật trọng tài thương mại 2010:

“Điều 2. Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài

1. Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.

2. Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.

3. Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.”

Theo khoản 5 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010 “Trọng tài viên là người được các bên lựa chọn hoặc được Trung tâm trọng tài hoặc Tòa án chỉ định để giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này”. Trọng tài viên được xem là đạt chuẩn khi đạt được các tiêu chuẩn tại Điều 20 tại Luật Trọng tài thương mại 2010.

“Điều 20. Tiêu chuẩn Trọng tài viên

Những người có đủ các tiêu chuẩn sau đây có thể làm Trọng tài viên:

a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật dân sự;

b) Có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác theo ngành đã học từ 5 năm trở lên;

c) Trong trường hợp đặc biệt, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn, tuy không đáp ứng được yêu cầu nêu tại điểm b khoản này, cũng có thể được chọn làm Trọng tài viên.

Những người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây không được làm Trọng tài viên:

a) Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Chấp hành viên, công chức thuộc Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Cơ quan thi hành án;

b) Người đang là bị can, bị cáo, người đang chấp hành án hình sự hoặc đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.

Trung tâm trọng tài có thể quy định thêm các tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này đối với Trọng tài viên của tổ chức mình.”

2.Quy định về thẩm quyền của trọng tài viên

Quyền của Trọng tài viên trong việc Tố tụng trọng tài không được quy định trong 1 điều luật mà nó nằm rải rác và được quy định theo từng mục khác nhau. Đầu tiên, Trọng tài viên được quyết định giải quyết hoặc không giải quyết tranh chấp theo Khoản 1 Điều 21 LTTM 2010.

Thứ hai, là về ngôn ngữ trong tố tụng trọng tài, hai bên sẽ tự thỏa thuận với nhau về ngôn ngữ sẽ sử dụng trường hợp hai bên không tự thỏa thuận được thì Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định tại Khoản 2 Điều 10 LTTTM 2010.

Thứ ba, Đối với trường hợp tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì các bên sẽ được thỏa thuận luật, trường hợp không thỏa thuận được thì Hội đồng trọng tài sẽ chọn luật mà họ cho là phù hợp nhất theo Khoản 2 Đièu 14 LTTTM 2010.

Thứ tư, cũng giống như các điều trên các bên sẽ thỏa thuận về địa điểm giải quyết tranh chấp, nếu các bên không tự thỏa thuận thì Hội đồng trọng tài sẽ quyết định, không giới hạn địa điểm nhưng địa điểm phải đúng chuẩn theo luật quy định của luật theo khoản 1 Điều 11 LTTTM 2010.

Thứ năm, Trọng tài viên xem xét thỏa thuận trọng tài có vô hiệu hay thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được và tranh chấp đó của thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài hay không theo khoản 1 Điều 43 LTTTM 2010.

Thứ sáu, Trọng tài viên sửa chữa và giải thích phán quyết, phán quyết bổ sung trong vòng 30 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được phán quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về thời hạn theo Điều 63 LTTTM 2010.

Thứ bảy, Thẩm quyền xác minh sự việc của Hội đồng trọng tài nghĩa là trong quá trình giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài có quyền gặp để trao đổi với các bên với sự có mặt của bên kia bằng hình thức thích hợp để làm sáng tỏ các vấn đề, Trọng tài viên có thể tự mình hoặc theo yêu cẩu của một hay các bên tìm hiểu về các sự việc liên quan đến vụ tranh chấp từ người thứ ba, với sự có mặt của một trong các bên hoặc sau khi đã thông báo cho các bên biết. Theo Điều 45 LTTTM 2010

Thứ tám, Hội đồng trọng tài được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của một trong các bên, buộc bên yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ đảm bảo tài chính theo Điều 49 LTTTM 2010

Cuối cùng, Thẩm quyền về thủ tục thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài theo Điều 51 LTTTM 2010.

3. Cách xác định thẩm quyền

Cách xác định thẩm quyền của Trọng tài viên cũng giống cách xác định thẩm quyền của Trọng tài thương mại. Đầu tiên, đó là hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, Thỏa thuận trọng tài có tồn tại khi thỏa thuận trọng tài được xác lập bằng văn bản quy định ở Điều 16 LTTTM 2010. Thực tế Thỏa thuận trọng tài được xác lập ở nhiều hình thức khác nhau như: Đặt điều khoản giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong hợp đồng giao kết, viết một thỏa thuận trọng tài độc lập, trao đổi bằng thư điện tử, fax, email và các phương tiện điện tử hợp pháp khác,… nếu như không thể chứng minh rằng thỏa thuận trọng tài có tồn tại thì không có căn cứ xác định thẩm quyền của Trọng tài viên. Sau khi đã xác định được sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài thì tiếp đó chúng ta sẽ xem về hiệu lực của nó. Mặc dù hai bên đã kí kết thỏa thuận nhưng nếu thỏa thuận đó vi phạm Điều 18 LTTTM 2010 về thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài đó được xem như không có và Trọng tài viên không có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp trên. Mọi phán quyết dựa trên cơ sở của bản thỏa thuận đó sẽ có nguy cơ bị Tòa án hủy bỏ.

Trọng tài viên chỉ có thẩm quyền đối với tranh chấp được ghi trong thỏa thuận và đáp ứng tại Đều 2 LTTTM 2010. Bởi vì căn bản thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận của các bên về cách họ xử lý khi xảy ra tranh chấp và trọng tài viên chỉ có quyền khi có thỏa thuận và thỏa thuận đó có hiệu lực . Nếu như trọng tài viên vượt quá thẩm quyền mà xử lý tranh chấp đó ngoài phần được ký trong thỏa thuận thì phán quyết trọng tài đó sẽ bị hủy bởi Tòa án theo Điều 68 LTTTM 2010.

Trọng tài viên có thể xem xét sự tồn tại, hiệu lực của thỏa thuận hợp đồng, có quyền quyết định tranh chấp có thuộc hay không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài Điều 43 LTTTM 2010. Tuy nhiên, thẩm quyền của Trọng tài viên vẫn chịu sự giám sát của Tòa án và đặc biệt là trong giai đoạn xem xét hủy Phán quyết trọng tài

4. Các tranh chấp về thẩm quyền

Đầu tiên, một trong những tranh chấp phổ biến nhất về thẩm quyền của Trọng tài viên đó là sự tồn tại và hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Việc xác định xem thỏa thuận đó có tồn tại và có hiệu lực hay không là vô cùng quan trọng, vì đó là bước căn bản để tiến hành tố tụng trọng tài. Nếu như thỏa thuận đó không tồn tại hoặc vô hiệu thì các bước tiếp theo của tố tụng trọng tài sẽ không được tiến hành.

Thứ hai, đó là tranh chấp về phạm vi của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của trọng tài viên. Đó là dạng tranh chấp mà một trong các bên cho rằng tranh chấp đó không thuộc phạm vi của thỏa thuận và không thuộc Điều 2 LTTTM 2010. Ví dụ: Tranh chấp ở hợp đồng phụ, hợp đồng liên quan nhưng không có ghi về điều khoản trọng tài, tranh chấp MSA, tranh chấp M&A, tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đặc biệt (Đất đai, nhà ở, tài sản gắn liền với đất,..),…

Cuối cùng đó là tranh chấp về chủ thể tham gia tố tụng trọng tài, đó là trường hợp một bên thứ ba không ký thỏa thuận trọng tài nhưng được tham gia tố tụng, trường hợp kế thừa quyền và nghĩa vụ hoặc tranh chấp công ty mẹ – con,… Việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài đối với các chủ thể không ký kết thỏa thuận, nếu Hội đồng trọng tài không xem xét kỹ lưỡng sẽ dẫn đến phán quyết bị hủy.

Có thể thấy việc xác định thẩm quyền của Trọng tài viên là một quá trình mang tính pháp lý chặt chẽ. Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, nhiều phán quyết bị hủy không phải vì nội dung mà là vì sai sót trong quá trình xác định thẩm quyền của Trọng tài thương mại. Cho nên việc xác định thẩm quyền là yếu tố then chốt bảo vệ giá trị chung thẩm của phán quyết trọng tài. Từ đó làm củng cố thêm niềm tin của các bên về phương thức giải quyết bằng trọng tài.

5. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss

Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau: 

5.1. Điều khoản trọng tài mẫu

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung: 

(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].

(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia]. 

(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].* 

(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].** Ghi chú: * 

Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài ** 

Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

5.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:

(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].

(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*

(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **

Ghi chú:

* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài

** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!

Tin liên quan
.
Lên đầu trang

Đăng tài liệu

TIÊU ĐỀ BÀI ĐĂNG
NỘI DUNG BÀI ĐĂNG
tải tệp lên (chỉ pdf)
Maximum file size: 512 MB