Bài viết cung cấp cái nhìn tổng quan về thực tiễn vai trò của Tòa án trong hỗ trợ và giám sát trọng tài qua đó, phân tích sự cần thiết phải có sự “hỗ trợ” của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại. Thông qua việc phân tích sự cần thiết của Tòa án trong việc hỗ trợ trọng tài, bài viết làm rõ tầm quan trọng của mối quan hệ tương hỗ này. Mặc dù trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp phi chính phủ, không mang quyền lực nhà nước, nhưng sự can thiệp và hỗ trợ từ Tòa án là yếu tố then chốt giúp trọng tài khắc phục những hạn chế, đảm bảo tính hiệu quả và pháp lý cho các phán quyết.
1. Thực tiễn vai trò của Tòa án đối với hoạt động của Trọng tài thương mại
Không nằm ngoài khung pháp lý quốc tế về chế định trọng tài thương mại, vai trò của Nhà nước trong pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam được ghi nhận trong tất cả các bước của quá trình trọng tài thương mại bao gồm trước, trong phiên xử và hiệu lực của phán quyết trọng tài. Tòa án, trọng tài thương mại là các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bổ sung lẫn nhau. Thực tế hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại cần có sự phối hợp của Tòa án. Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận vai trò của Tòa án đối với các hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại về bốn vấn đề sau: chỉ định trọng tài viên; thay đổi trọng tài viên; áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; hủy phán quyết trọng tài. Tuy nhiên, trải qua gần một thập kỷ thi hành và áp dụng, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định nên Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đã ra đời để khắc phục những mặt hạn chế của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cho sự hoạt động của Tòa án trong việc hỗ trợ các trung tâm trọng tài thương mại. Vì vậy, hiện nay, ngoài các văn bản pháp luật quốc tế như Luật mẫu năm 1985 của Liên Hợp quốc về Trọng tài thương mại và Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài, các văn bản pháp luật quốc gia trực tiếp điều chỉnh trọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam gồm có: Luật Trọng tài thương mại năm 2010; Nghị định số 63/2011/NĐ-CP ngày 28/7/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại; Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại; Nghị định số 124/2018/NĐ-CP ngày 19/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2011/NĐ-CP.
Tại Việt Nam, trọng tài thương mại là tổ chức phi chính phủ nhưng các trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước. Nhà nước quản lý đối với các trung tâm trọng tài thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của trung tâm trọng tài. Ngoài ra, Nhà nước còn quản lý thông qua hoạt động quản lý hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp, thay đổi, bổ sung hay thu hồi giấy phép thành lập, đăng kí hoạt động của các trung tâm trọng tài. Cụ thể: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (Vietnam International Arbitration Centre – VIAC) được thành lập vào năm 1993 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương (thành lập năm 1963) và Hội đồng Trọng tài Hàng hải (thành lập năm 1964). Theo quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Điều lệ hiện hành, VIAC là tổ chức độc lập. Phán quyết của các Hội đồng Trọng tài thuộc VIAC là chung thẩm và được công nhận, thi hành tại Việt Nam và trên 170 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới theo Công ước về Công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài (Công ước New York năm 1958). Trên thực tế, năm 2021, số vụ VIAC thụ lý và giải quyết thành công là 270 vụ việc (tăng 21% so với năm 2020). Theo đó, 43% là các vụ việc liên quan đến tranh chấp trong nước, 40% là tranh chấp liên quan đến liên doanh giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Tranh chấp hoàn toàn mang yếu tố nước ngoài chỉ chiếm 18%.
2. Sự cần thiết phải có sự “hỗ trợ” của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại
Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của trọng tài: Trọng tài thương mại (TTTM) là cơ quan tài phán phi chính phủ có quyền lực bắt nguồn từ “quyền lực hợp đồng” do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm, do đó, trọng tài không mang trong mình quyền lực nhà nước khi giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước, không đại diện cho ý chí của Nhà nước, chỉ đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp. Điều này đã đặt ra cho TTTM những khó khăn khi không có sự đồng thuận, hợp tác, thiện chí của cả hai bên tranh chấp trong quá trình tố tụng cũng như việc thi hành phán quyết trọng tài. Khi những khó khăn này vượt ra khỏi sự kiểm soát của trọng tài và cần đến sự giúp đỡ của Tòa án và các cơ quan tư pháp khác. Vì vậy, sự hỗ trợ của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tránh bế tắc cho hoạt động trọng tài, để trọng tài có thể giải quyết tốt các tranh chấp mà các bên đã tin tưởng giao phó. Ví dụ, trong quá trình thành lập Hội đồng trọng tài (HĐTT), có trường hợp bị đơn không chọn được Trọng tài viên cho mình, hay các bên không chọn được Trọng tài viên duy nhất; nếu có một bên tranh chấp tẩu tán tài sản, làm thất thoát khối tài sản của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với bên kia thì trọng tài cũng không thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các hành vi đó,… Từ đó đặt ra vấn đề cần phải có sự “hỗ trợ” của Tòa án cho hoạt động của trọng tài để “lắp” khoảng trống này của trọng tài.
Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu, thực tiễn giải quyết tranh chấp
Các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn kinh doanh ở nước ta ngày càng nhiều hơn và đa dạng hơn về chủng loại, phức tạp về tính chất. Điều này đòi hỏi phải có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả để đáp ứng các yêu cầu khác nhau của chủ thể kinh doanh. Ở nước ta, TTTM đã có lịch sử tồn tại khá lâu dài, tuy nhiên, chưa phải là hình thức được các nhà kinh doanh ưa chuộng, căn bản là do thiếu sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan Tòa án nói riêng. Chính sự hỗ trợ đó sẽ làm cho hoạt động trọng tài được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, đồng thời không làm mất đi ưu thế của hình thức giải quyết tranh chấp tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các đương sự.
Thứ ba, từ tình trạng quá nhiều án tồn đọng tại các Tòa án
Cùng với sự phát triển sôi động của các quan hệ kinh tế, các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại buộc phải đưa đến Tòa kinh tế ngày càng nhiều, đã tạo ra áp lực tăng, gây ra tình trạng “quá tải”, án tồn đọng với số lượng khá lớn, đặc biệt là ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.
Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng tài
Nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng có thẩm quyền quản lý hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó có trọng tài. Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về trọng tài đã thể hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động của trọng tài, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của trọng tài.
Như vậy, mối quan hệ đặc trưng giữa Tòa án và TTTM là mối quan hệ hỗ trợ và giám sát. Nhờ có mối quan hệ này, mà TTTM tuy là tổ chức tài phán phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động một cách có hiệu quả. Việc thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong hỗ trợ, giám sát hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của TTTM là một sự tiếp sức cho TTTM, thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc đa dạng hóa phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ của Nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịch thương mại.

3. Vai trò hỗ trợ và giám sát của Tòa án đối với trọng tài
Một trong những nội dung cơ bản của Luật trọng tài thương mại so với pháp lệnh trọng tài năm 2003 là ngoài việc trao cho Hội đồng trọng tài quyền thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Luật trọng tài và sau đó là Nghị quyết 01/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao còn phân định rõ vai trò hỗ trợ và giám sát của Tòa án Việt Nam đối với hoạt động trọng tài. Tuy nhiên, trên thực tế, do một số thẩm phán còn thiếu kinh nghiệm trong việc giải quyết các vụ việc trọng tài này mà còn không ít bất cập đã xảy ra như áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trái với thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với bên thứ ba không bị ràng buộc bởi thỏa thuận trọng tài, hay thụ lý giải quyết vụ tranh chấp kể cả khi đã có thỏa thuận trọng tài giữa các bên. Điều này đã gây ra nhiều lo ngại đối với các bên tranh chấp, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia tố tụng trọng tài tại Việt Nam.
3.1 Đối với việc chỉ định, thay đổi trọng tài viên trong thành lập trọng tài vụ việc
Tòa án thực hiện vai trò hỗ trợ của mình thông qua quy định về việc chỉ định trọng tài viên trong thành lập hội đồng trọng tài vụ việc tại Điều 41 Luật Trọng tài thương mại. Cụ thể, trong trường hợp không chọn được trọng tài viên, một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định: chỉ định trọng tài viên cho Bị đơn/ các Bị đơn, chủ tịch Hội đồng trọng tài, trọng tài viên duy nhất. Theo khoản 5 Điều 41 Luật Trọng tài thương mại: “Chánh án Tòa án có thẩm quyền phải phân công một Thẩm phán chỉ định Trọng tài viên và thông báo cho các bên.”
Ngoài ra, đối với trường hợp cần phải thay đổi Trọng tài viên theo quy định của pháp luật, Tòa án (nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp) chỉ hỗ trợ việc thay đổi trọng tài viên trong trường hợp trọng tài vụ việc giải quyết trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp theo khoản 4 Điều 42 Luật Trọng tài thương mại.
3.2 Đối với việc thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng
Theo quy định tại khoản 5 Điều 46 Luật Trọng tài thương mại: “Trong trường hợp Hội đồng trọng tài, một hoặc các bên đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể gửi văn bản đề nghị Toà án có thẩm quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến vụ tranh chấp. Văn bản đề nghị phải nêu rõ nội dung vụ việc đang giải quyết tại Trọng tài, chứng cứ cần thu thập, lý do không thu thập được, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó.” Tương tự, Tòa án cũng có sự hỗ trợ trong vấn đề triệu tập người làm chứng. Cụ thể theo khoản 2, 3 Điều 47 Luật Trọng tài thương mại:
“2. Trường hợp người làm chứng đã được Hội đồng trọng tài triệu tập hợp lệ mà không đến phiên họp nhưng không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây cản trở cho việc giải quyết tranh chấp, thì Hội đồng trọng tài gửi văn bản đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định triệu tập người làm chứng đến phiên họp của Hội đồng trọng tài. Văn bản phải nêu rõ nội dung vụ việc đang được giải quyết tại Trọng tài; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng; lý do cần triệu tập người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng cần phải có mặt.
3. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị triệu tập người làm chứng của Hội đồng trọng tài, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết yêu cầu triệu tập người làm chứng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải ra quyết định triệu tập người làm chứng.
Quyết định triệu tập người làm chứng phải ghi rõ tên Hội đồng trọng tài yêu cầu triệu tập người làm chứng; nội dung vụ tranh chấp; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng; thời gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt theo yêu cầu của Hội đồng trọng tài.
Tòa án phải gửi ngay quyết định này cho Hội đồng trọng tài, người làm chứng đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng có nghĩa vụ nghiêm chỉnh thi hành quyết định của Tòa án. Chi phí cho người làm chứng được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.”
3.3 Đối với việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Theo khoản 1 Điều 48 Luật Trọng tài thương mại: “Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Luật này và các quy định của pháp luật có liên quan, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”
Việc yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước từ quyền giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài. Việc Tòa án trợ giúp hoạt động trọng tài thông qua áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời còn được thể hiện chi tiết tại Điều 53 Luật Trọng tài thương mại quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời như sau:
“1. Sau khi nộp đơn khởi kiện, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc có nguy cơ trực tiếp bị xâm hại, một bên có quyền làm đơn gửi đến Toà án có thẩm quyền yêu cầu áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời.
2.Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chánh án Tòa án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét, quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thẩm phán phải ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay sau khi người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.
3. Một bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Việc phân công Thẩm phán xem xét giải quyết đơn yêu cầu thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
5. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, nếu một trong các bên đã yêu cầu Hội đồng trọng tài áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời mà lại có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Tòa án phải từ chối và trả lại đơn yêu cầu, trừ trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.”
3.4 Đối với việc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc
Theo khoản 1 Điều 62 Luật Trọng tài thương mại: “Theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp, phán quyết của Trọng tài vụ việc được đăng ký tại Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết trước khi yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành phán quyết trọng tài đó. Việc đăng ký hoặc không đăng ký phán quyết trọng tài không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của phán quyết trọng tài.”
3.5. Đối với việc hủy Phán quyết trọng tài
Khoản 1 Điều 44 Luật trọng tài thương mại năm 2010, quy định:
“Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng trọng tài, các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài. Bên khiếu nại phải đồng thời thông báo việc khiếu nại cho Hội đồng trọng tài. Trong khi Tòa án giải quyết đơn khiếu nại, Hội đồng trọng tài vẫn có thể tiếp tục giải quyết tranh chấp.”
Khi nhận đơn yêu cầu hủy quyết định trọng tài của một bên, Tòa án không xét xử lại mà chỉ đối chiếu vào các căn cứ phán quyết trọng tài bị hủy; nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật trọng tài thương mại năm 2010. Việc quy định các căn cứ mà bên yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài phải chứng minh giúp cho các bên phải tự chịu trách nhiệm với yêu cầu của chính mình.