Các căn cứ hủy phán quyết Trọng tài thương mại

Căn cứ huỷ phán quyết trọng tài thương mại
Mục lục

Căn cứ hủy phán quyết trọng tài là những trường hợp pháp luật cho phép Tòa án xem xét hủy phán quyết đã được Hội đồng trọng tài ban hành. Theo Luật Trọng tài thương mại, phán quyết có tính chung thẩm và không được kháng cáo như bản án của Tòa án. Tuy nhiên, khi xuất hiện vi phạm thuộc trường hợp luật định, một bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét hủy phán quyết để bảo đảm tính hợp pháp của quá trình tố tụng trọng tài.

1. Khái quát chung về căn cứ hủy phán quyết trọng tài

Hủy phán quyết trọng tài là cơ chế kiểm soát của Tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại. Cơ chế này nhằm bảo đảm việc giải quyết tranh chấp được thực hiện đúng thỏa thuận trọng tài và quy định pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Theo khoản 1 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại 2010, Tòa án chỉ xem xét hủy phán quyết khi có đơn yêu cầu của một bên tranh chấp. Do đó, việc hủy không được thực hiện tự động chỉ vì một bên không đồng ý với kết quả giải quyết tranh chấp.

1.1. Ý nghĩa của việc xem xét hủy phán quyết trong tố tụng trọng tài

Theo khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại, phán quyết trọng tài có tính chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Khác với bản án sơ thẩm của Tòa án, phán quyết trọng tài không phải trải qua thủ tục phúc thẩm để xem xét lại toàn bộ nội dung vụ tranh chấp.

Tuy nhiên, tính chung thẩm không đồng nghĩa với việc phán quyết trọng tài không chịu sự kiểm soát của cơ quan tư pháp. Điều 68 Luật Trọng tài thương mại quy định các trường hợp Tòa án có thể hủy phán quyết khi có yêu cầu hợp lệ của một bên. Đây là cơ chế bảo đảm Hội đồng trọng tài tuân thủ thỏa thuận của các bên, quy định về tố tụng trọng tài và những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Cần phân biệt thủ tục hủy phán quyết với việc kháng cáo hoặc xét xử lại tranh chấp. Tòa án không đánh giá lại toàn bộ chứng cứ để xác định bên nào đúng, bên nào sai hoặc thay thế nhận định của Hội đồng trọng tài bằng quan điểm của mình. Phạm vi xem xét tập trung vào các căn cứ được quy định tại Điều 68.

Vì vậy, việc yêu cầu hủy phán quyết không phải là cơ hội thứ hai để một bên tranh luận lại nội dung vụ việc. Cơ chế này chỉ được sử dụng khi có vi phạm thuộc trường hợp luật định và được chứng minh theo yêu cầu của pháp luật.

2. Căn cứ pháp lý, thẩm quyền và trình tự yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, bên có quyền lợi bị ảnh hưởng cần xác định đúng căn cứ pháp lý, thời hạn nộp đơn và cơ quan có thẩm quyền. Việc chuẩn bị hồ sơ cũng cần tập trung vào hành vi vi phạm cụ thể, thay vì chỉ trình bày sự không đồng tình với kết quả giải quyết tranh chấp.

2.1. Căn cứ pháp lý áp dụng

Các quy định trực tiếp về hủy phán quyết trọng tài được tập trung tại Chương XI Luật Trọng tài thương mại 2010, từ Điều 68 đến Điều 72. Hiện nay, doanh nghiệp có thể tra cứu nội dung luật đã được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 60/VBHN-VPQH ngày 15/08/2025.

Trong đó, các điều khoản quan trọng gồm:

  • Điều 68: Quy định các căn cứ hủy phán quyết trọng tài và nghĩa vụ chứng minh.
  • Điều 69: Quy định quyền yêu cầu hủy phán quyết và thời hạn thực hiện quyền này.
  • Điều 70: Quy định nội dung đơn và tài liệu kèm theo.
  • Điều 71: Quy định trình tự Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
  • Điều 72: Quy định về lệ phí Tòa án liên quan đến hoạt động trọng tài.

Bên cạnh đó, Điều 7 Luật Trọng tài thương mại, sau khi được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 81/2025/QH15, là căn cứ xác định Tòa án có thẩm quyền đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Đây là nội dung cần lưu ý khi xác định cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo mô hình tổ chức Tòa án hiện hành.

2.2. Các căn cứ hủy phán quyết trọng tài theo Điều 68

Theo khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, phán quyết trọng tài bị hủy nếu thuộc một trong năm trường hợp sau đây:

Thứ nhất, không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu.

Thỏa thuận trọng tài là cơ sở xác lập thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài. Vì vậy, nếu các bên không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận đã xác lập bị vô hiệu theo Điều 18 Luật Trọng tài thương mại, Hội đồng trọng tài không có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp bằng phương thức này.

Ví dụ: các bên không có bất kỳ thỏa thuận nào lựa chọn trọng tài nhưng một bên vẫn khởi động thủ tục trọng tài. Hoặc thỏa thuận trọng tài được xác lập trong trường hợp người xác lập không có thẩm quyền theo quy định pháp luật và không được xác lập, thực hiện hợp lệ thông qua cơ chế đại diện.

Trong những trường hợp này, bên yêu cầu hủy cần chứng minh việc không tồn tại thỏa thuận trọng tài hoặc căn cứ khiến thỏa thuận bị vô hiệu. Không thể chỉ viện dẫn rằng mình không đồng ý với việc giải quyết bằng trọng tài nếu hồ sơ đã thể hiện thỏa thuận hợp lệ.

Thứ hai, thành phần Hội đồng trọng tài hoặc thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp.

Căn cứ này được áp dụng khi thành phần Hội đồng trọng tài hoặc trình tự tố tụng không phù hợp với thỏa thuận của các bên hoặc trái với quy định của Luật Trọng tài thương mại.

Việc xác định vi phạm cần đối chiếu với thỏa thuận trọng tài, quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài được lựa chọn và các quy định pháp luật có liên quan. Chẳng hạn, các bên đã thỏa thuận về số lượng Trọng tài viên nhưng Hội đồng trọng tài được thành lập không đúng thỏa thuận; hoặc việc giải quyết tranh chấp không tuân thủ trình tự tố tụng bắt buộc theo luật.

Tuy nhiên, không phải mọi sai sót trong quá trình tố tụng đều đương nhiên dẫn đến việc hủy phán quyết. Bên yêu cầu cần xác định rõ quy định hoặc thỏa thuận bị vi phạm, hành vi vi phạm và tài liệu chứng minh tương ứng.

Thứ ba, vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.

Hội đồng trọng tài chỉ được giải quyết những tranh chấp thuộc phạm vi thẩm quyền theo thỏa thuận trọng tài và Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Nếu tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng trọng tài, phán quyết có thể bị hủy theo điểm c khoản 2 Điều 68.

Trường hợp chỉ một phần nội dung phán quyết vượt quá thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, pháp luật quy định phần nội dung đó bị hủy. Quy định này cho phép phân biệt giữa vi phạm liên quan đến toàn bộ tranh chấp và vi phạm chỉ ảnh hưởng đến một phần nội dung phán quyết.

Thứ tư, có chứng cứ giả mạo hoặc Trọng tài viên nhận lợi ích vật chất làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng.

Điểm d khoản 2 Điều 68 đề cập hai nhóm hành vi:

Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là chứng cứ giả mạo.
Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp, làm ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng của phán quyết.

Đối với trường hợp thứ nhất, bên yêu cầu cần chỉ ra tài liệu nào bị giả mạo và chứng minh Hội đồng trọng tài đã sử dụng tài liệu đó làm căn cứ ra phán quyết. Đối với trường hợp thứ hai, cần có tài liệu, chứng cứ thể hiện việc Trọng tài viên nhận lợi ích vật chất và mối liên hệ với tính khách quan, công bằng của phán quyết.

Việc một bên không đồng ý với cách Hội đồng trọng tài đánh giá chứng cứ không đồng nghĩa với việc chứng cứ được sử dụng là giả mạo. Hai vấn đề này cần được phân biệt rõ khi xây dựng yêu cầu hủy.

Thứ năm, phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Đây là căn cứ tại điểm đ khoản 2 Điều 68, có phạm vi xem xét liên quan đến những nguyên tắc nền tảng của hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc đánh giá không chỉ dựa trên việc một quy định pháp luật cụ thể có được áp dụng hay không, mà cần xem xét liệu nội dung phán quyết có xung đột với các nguyên tắc cơ bản được pháp luật bảo vệ hay không.

Do tính chất đặc biệt của căn cứ này, không thể mặc nhiên xem mọi sai sót trong việc áp dụng pháp luật hoặc mọi kết quả giải quyết bất lợi cho một bên là hành vi vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Theo điểm b khoản 3 Điều 68, đối với căn cứ này, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh, thu thập chứng cứ để quyết định hủy hay không hủy phán quyết trọng tài.

2.3. Cơ quan có thẩm quyền xử lý yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Việc hủy phán quyết trọng tài thuộc thẩm quyền xem xét của Tòa án. Tuy nhiên, trong quá trình này, Hội đồng trọng tài và cơ quan thi hành án dân sự cũng có những vai trò nhất định, cần được phân biệt để tránh nhầm lẫn về chức năng.

Đối với Hội đồng trọng tài và Trung tâm trọng tài

Hội đồng trọng tài là chủ thể ban hành phán quyết và chịu trách nhiệm về quá trình giải quyết tranh chấp. Sau khi phán quyết được ban hành, Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền tự hủy phán quyết đã tuyên chỉ vì một bên không đồng ý với kết quả.

Tuy nhiên, theo khoản 7 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại, trong quá trình Tòa án xem xét đơn yêu cầu hủy, Hội đồng xét đơn có thể tạm đình chỉ việc giải quyết trong thời hạn không quá 60 ngày theo yêu cầu của một bên nếu xét thấy phù hợp, nhằm tạo điều kiện để Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng theo quan điểm của Hội đồng trọng tài.

Như vậy, Hội đồng trọng tài có thể khắc phục sai sót tố tụng trong phạm vi luật định, nhưng quyền quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết thuộc về Tòa án.

Đối với Tòa án nhân dân

Tòa án là cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Theo điểm g khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 81/2025/QH15, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thuộc thẩm quyền của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo phạm vi thẩm quyền lãnh thổ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.

Về thẩm quyền theo địa điểm, Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài. Do đó, khi nộp đơn, bên yêu cầu cần xác định đúng Tòa án cấp tỉnh được phân công giải quyết loại yêu cầu này, không mặc nhiên gửi đến Tòa án nhân dân khu vực nơi mình cư trú hoặc đặt trụ sở.

Sau khi tiếp nhận và thụ lý đơn, Tòa án thành lập Hội đồng xét đơn gồm ba Thẩm phán để xem xét yêu cầu theo trình tự quy định tại Điều 71 Luật Trọng tài thương mại.

Đối với cơ quan thi hành án dân sự

Cơ quan thi hành án dân sự không có thẩm quyền xem xét hoặc quyết định hủy phán quyết trọng tài. Chức năng của cơ quan này là tổ chức thi hành phán quyết theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự khi đáp ứng điều kiện luật định.

Theo khoản 1 Điều 66 Luật Trọng tài thương mại, bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành khi đã hết thời hạn thi hành mà bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện và cũng không yêu cầu hủy phán quyết theo Điều 69.

Trường hợp Tòa án ra quyết định không hủy phán quyết, khoản 8 Điều 71 xác định phán quyết trọng tài được thi hành. Vì vậy, cơ quan thi hành án dân sự chỉ thực hiện chức năng tổ chức thi hành, không thay thế Tòa án trong việc đánh giá căn cứ hủy.

2.4. Trình tự, thủ tục yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải được thực hiện đúng thời hạn và trình tự. Theo Điều 69, Điều 70 và Điều 71 Luật Trọng tài thương mại, quá trình này có thể khái quát qua các bước sau:

Bước 1: Xác định căn cứ và thời hạn yêu cầu hủy

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài, nếu có căn cứ cho rằng phán quyết thuộc một trong các trường hợp tại khoản 2 Điều 68, một bên có quyền gửi đơn yêu cầu hủy đến Tòa án có thẩm quyền.
Trường hợp không thể gửi đơn đúng thời hạn do sự kiện bất khả kháng, thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng không được tính vào thời hạn yêu cầu hủy.

Ở bước này, bên yêu cầu cần đối chiếu từng vi phạm với căn cứ pháp luật tương ứng, xác định tài liệu chứng minh và đánh giá khả năng đáp ứng nghĩa vụ chứng minh theo khoản 3 Điều 68.

Bước 2: Chuẩn bị và nộp đơn yêu cầu hủy phán quyết

Theo Điều 70, đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài phải có các nội dung chủ yếu gồm:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn.
  • Tên và địa chỉ của bên có yêu cầu.
  • Yêu cầu hủy và căn cứ đề nghị Tòa án hủy phán quyết.
  • Kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chính hoặc bản sao phán quyết trọng tài đã được chứng thực hợp lệ và bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ. Tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch sang tiếng Việt và bản dịch phải được chứng thực hợp lệ.

Ngoài các tài liệu bắt buộc nêu trên, bên yêu cầu cần chuẩn bị chứng cứ chứng minh cho từng căn cứ hủy được viện dẫn. Hồ sơ càng xác định rõ hành vi vi phạm, tài liệu liên quan và mối liên hệ với căn cứ pháp luật thì càng thuận lợi cho quá trình xem xét.

Bước 3: Tòa án thụ lý và thành lập Hội đồng xét đơn

Sau khi thụ lý đơn, Tòa án thông báo cho Trung tâm trọng tài hoặc các Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, các bên tranh chấp và Viện kiểm sát cùng cấp.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý, Chánh án Tòa án chỉ định Hội đồng xét đơn gồm ba Thẩm phán.

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được chỉ định, Hội đồng xét đơn phải mở phiên họp để xem xét yêu cầu hủy phán quyết.

Trước phiên họp, Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày làm việc theo quy định tại khoản 2 Điều 71.

Bước 4: Tòa án mở phiên họp và xem xét yêu cầu

Phiên họp có sự tham gia của các bên tranh chấp, luật sư của các bên nếu có và Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Tòa án xem xét yêu cầu trên cơ sở các căn cứ tại Điều 68 và tài liệu, chứng cứ được cung cấp.

Điểm quan trọng là Tòa án không xét xử lại nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết. Hội đồng xét đơn tập trung đánh giá liệu phán quyết có thuộc một trong các trường hợp có thể bị hủy theo luật hay không.

Theo khoản 7 Điều 71, nếu có yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, Hội đồng xét đơn có thể tạm đình chỉ việc xem xét trong thời hạn không quá 60 ngày để tạo điều kiện cho Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng.

Bước 5: Tòa án ra quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết

Sau khi xem xét yêu cầu, Hội đồng xét đơn có thể ra quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài. Nếu bên yêu cầu rút đơn hoặc thuộc trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng theo khoản 5 Điều 71, Tòa án có thể ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.

Theo khoản 8 Điều 71, nếu phán quyết bị hủy, các bên có thể thỏa thuận lại để đưa tranh chấp ra giải quyết bằng trọng tài hoặc một bên có quyền khởi kiện tại Tòa án. Ngược lại, nếu Tòa án quyết định không hủy phán quyết, phán quyết được thi hành theo quy định.

Quyết định của Tòa án về việc hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành theo khoản 10 Điều 71.

3. Hậu quả pháp lý và những rủi ro khi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Việc Tòa án chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu hủy có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp tục thực hiện phán quyết và phương thức giải quyết tranh chấp của các bên. Do đó, doanh nghiệp cần đánh giá kỹ căn cứ pháp lý trước khi thực hiện quyền yêu cầu.

3.1. Hậu quả pháp lý khi Tòa án quyết định hủy hoặc không hủy phán quyết

Trường hợp phán quyết trọng tài bị hủy

Khi Tòa án ra quyết định hủy phán quyết, phán quyết đó không còn là căn cứ để yêu cầu thi hành theo cơ chế thi hành phán quyết trọng tài. Theo khoản 8 Điều 71, các bên có thể thỏa thuận lại để đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài hoặc một bên có quyền khởi kiện tại Tòa án.

Việc phán quyết bị hủy không đồng nghĩa với việc Tòa án đã giải quyết nội dung tranh chấp hoặc xác định bên nào có quyền lợi đúng. Tòa án chỉ xem xét sự tồn tại của căn cứ hủy theo Điều 68, không thay thế Hội đồng trọng tài để đưa ra phán quyết mới về quyền và nghĩa vụ của các bên.

Trường hợp phán quyết trọng tài không bị hủy

Nếu Tòa án quyết định không hủy phán quyết, phán quyết tiếp tục được thi hành theo khoản 8 Điều 71. Bên phải thi hành có nghĩa vụ thực hiện nội dung phán quyết theo thời hạn và điều kiện được xác định.

Đồng thời, quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành. Các bên không thể tiếp tục sử dụng thủ tục kháng cáo thông thường để yêu cầu xét lại quyết định này.

3.2. Những rủi ro cần lưu ý khi yêu cầu hủy phán quyết

Không chứng minh được căn cứ hủy theo quy định

Một trong những rủi ro phổ biến là bên yêu cầu chỉ nêu ra những bất đồng với kết quả giải quyết tranh chấp mà không chứng minh được vi phạm thuộc Điều 68. Ví dụ, việc cho rằng Hội đồng trọng tài đánh giá chứng cứ chưa thuyết phục không đồng nghĩa với việc chứng cứ được sử dụng là giả mạo hoặc phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Theo khoản 3 Điều 68, bên yêu cầu phải chứng minh các căn cứ tại điểm a, b, c và d khoản 2. Riêng đối với căn cứ tại điểm đ, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh, thu thập chứng cứ. Việc xác định đúng nghĩa vụ chứng minh giúp doanh nghiệp xây dựng hồ sơ phù hợp với từng trường hợp.

Bỏ lỡ thời hạn 30 ngày yêu cầu hủy

Thời hạn yêu cầu hủy được tính từ ngày bên yêu cầu nhận được phán quyết trọng tài, không phải từ ngày phát sinh tranh chấp hoặc ngày doanh nghiệp quyết định không đồng ý với kết quả giải quyết.

Nếu gửi đơn quá thời hạn mà không thuộc trường hợp được loại trừ thời gian do sự kiện bất khả kháng, quyền yêu cầu hủy có thể không được xem xét. Do đó, doanh nghiệp cần lưu giữ tài liệu xác nhận ngày nhận phán quyết và chủ động rà soát căn cứ hủy ngay sau khi tiếp nhận.

Không phản đối kịp thời khi phát hiện vi phạm tố tụng

Theo Điều 13 Luật Trọng tài thương mại, nếu một bên phát hiện vi phạm quy định của Luật hoặc thỏa thuận trọng tài nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng mà không phản đối trong thời hạn luật định thì có thể mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án.

Quy định này đặt ra yêu cầu các bên phải chủ động bảo vệ quyền lợi ngay trong quá trình giải quyết tranh chấp. Việc chờ đến khi nhận được phán quyết mới viện dẫn những vi phạm đã biết từ trước có thể ảnh hưởng đến khả năng sử dụng căn cứ hủy.

Nhầm lẫn giữa yêu cầu hủy và yêu cầu sửa chữa, giải thích phán quyết

Không phải mọi sai sót trong phán quyết đều là căn cứ để yêu cầu hủy. Nếu phán quyết có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai, hoặc cần giải thích một điểm cụ thể, các bên có thể xem xét yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa, giải thích theo Điều 63.

Ngược lại, nếu có vi phạm thuộc một trong các trường hợp tại Điều 68, bên có quyền lợi bị ảnh hưởng cần cân nhắc thủ tục yêu cầu Tòa án hủy phán quyết. Việc lựa chọn sai thủ tục có thể khiến doanh nghiệp mất thời gian và không giải quyết được vấn đề pháp lý thực sự phát sinh.

4. Những vấn đề thường gặp trong thực tiễn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài

Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, vấn đề quan trọng không chỉ là xác định điều luật được viện dẫn mà còn phải chứng minh mối liên hệ giữa vi phạm và căn cứ hủy. Do đó, doanh nghiệp cần lưu ý một số tình huống dễ phát sinh tranh luận trong quá trình chuẩn bị hồ sơ.

4.1. Không đồng nhất sai sót tố tụng với căn cứ hủy phán quyết

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, có thể phát sinh những sai sót liên quan đến việc gửi thông báo, thành lập Hội đồng trọng tài, thu thập chứng cứ hoặc tổ chức phiên họp. Tuy nhiên, để yêu cầu hủy phán quyết, bên liên quan cần xác định sai sót đó có thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 68 hay không.

Việc chỉ nêu rằng thủ tục giải quyết chưa phù hợp mà không chỉ rõ quy định pháp luật hoặc thỏa thuận của các bên bị vi phạm sẽ không đủ để làm rõ căn cứ yêu cầu. Doanh nghiệp nên lưu giữ thông báo tố tụng, văn bản trao đổi, biên bản phiên họp và các tài liệu liên quan để chứng minh diễn biến thực tế.

4.2. Không sử dụng thủ tục hủy để yêu cầu Tòa án xét xử lại nội dung tranh chấp

Một sai lầm khác là viện dẫn Điều 68 để đề nghị Tòa án đánh giá lại toàn bộ chứng cứ, cách tính nghĩa vụ hoặc nhận định của Hội đồng trọng tài. Cách tiếp cận này không phù hợp với phạm vi xem xét được quy định tại khoản 4 Điều 71.

Tòa án không có nhiệm vụ thay thế Hội đồng trọng tài để xác định lại bên nào có lỗi hoặc nghĩa vụ thanh toán cần được điều chỉnh như thế nào. Bên yêu cầu cần tập trung chứng minh một trong các vi phạm được liệt kê tại khoản 2 Điều 68 thay vì chỉ trình bày những điểm chưa đồng tình với phán quyết.

4.3. Không phân biệt nghĩa vụ chứng minh giữa các căn cứ hủy

Nghĩa vụ chứng minh được phân định khác nhau tùy theo căn cứ được viện dẫn. Đối với các trường hợp tại điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 68, bên yêu cầu phải chứng minh phán quyết thuộc trường hợp tương ứng. Trong khi đó, đối với căn cứ tại điểm đ, Tòa án có trách nhiệm chủ động xác minh, thu thập chứng cứ.

Vì vậy, doanh nghiệp không nên sử dụng một cách lập luận chung cho tất cả các trường hợp. Mỗi căn cứ cần được trình bày riêng, kèm theo tài liệu chứng minh phù hợp và giải thích rõ vì sao hành vi hoặc tình tiết được nêu đáp ứng điều kiện luật định.

4.4. Không theo dõi khả năng khắc phục sai sót tố tụng

Khoản 7 Điều 71 cho phép Hội đồng xét đơn tạm đình chỉ việc xem xét yêu cầu hủy trong thời hạn không quá 60 ngày nếu có yêu cầu của một bên và xét thấy phù hợp, nhằm tạo điều kiện để Hội đồng trọng tài khắc phục sai sót tố tụng.

Quy định này cho thấy việc xuất hiện sai sót tố tụng không phải lúc nào cũng dẫn đến kết quả hủy phán quyết. Doanh nghiệp cần theo dõi quá trình khắc phục, đánh giá nội dung đã được xử lý và xác định liệu căn cứ hủy còn tồn tại hay không trước khi tiếp tục trình bày quan điểm với Tòa án.

5. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss

Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:

Giải quyết tranh chấp tại BBIAC
Giải quyết tranh chấp tại BBIAC

5.1. Điều khoản trọng tài mẫu

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:

(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].

(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].

(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*

(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].**

Ghi chú:

*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài

**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

5.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 39 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:

(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].

(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*

(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **

Ghi chú:

*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài

**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!

6. Kết luận

Căn cứ hủy phán quyết trọng tài được quy định cụ thể tại Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, nhằm bảo đảm hoạt động trọng tài tuân thủ thỏa thuận của các bên và quy định pháp luật. Tuy nhiên, thủ tục hủy không phải cơ chế xét xử lại nội dung tranh chấp mà chỉ được áp dụng khi có vi phạm thuộc trường hợp luật định.

Doanh nghiệp cần xác định đúng căn cứ, tuân thủ thời hạn 30 ngày, chuẩn bị chứng cứ phù hợp và gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền. Việc hiểu rõ cơ chế này giúp các bên chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp và hạn chế rủi ro trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

.
Lên đầu trang

Đăng tài liệu

TIÊU ĐỀ BÀI ĐĂNG
NỘI DUNG BÀI ĐĂNG
tải tệp lên (chỉ pdf)
Maximum file size: 256 MB