Mô tả:
Bài viết trình bày tổng quan về đình chỉ giải quyết tranh chấp trọng tài bao gồm: khái niệm, các trường hợp đình chỉ giải quyết tranh chấp trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại 2010 như: một bên chết, tổ chức chấm dứt hoạt động, rút đơn kiện, thỏa thuận chấm dứt tranh chấp hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu. Bài viết cũng nêu rõ thẩm quyền ra quyết định đình chỉ và hậu quả pháp lý khi đình chỉ giải quyết tranh chấp.
1. Khái niệm về đình chỉ giải quyết tranh chấp
Đình chỉ giải quyết tranh chấp trọng tài là việc Hội đồng trọng tài (hoặc Chủ tịch Trung tâm trọng tài nếu Hội đồng chưa được thành lập) ra quyết định chấm dứt quá trình giải quyết tranh chấp, làm cho vụ việc không được tiếp tục xét xử bởi trọng tài. Đây là một biện pháp tố tụng nhằm kết thúc thủ tục trọng tài trong những trường hợp không thể hoặc không cần tiếp tục giải quyết tranh chấp.
2. Các trường hợp tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết tranh chấp trọng tài
Theo quy định tại Luật Trọng tài thương mại 2010 về đình chỉ giải quyết tranh chấp, các trường hợp mà vụ tranh chấp được đình chỉ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là các trường hợp sau:
Thứ nhất, vụ tranh chấp được đình chỉ giải quyết trong các trường hợp sau đây:
+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế: trong trường hợp này, để Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp, cần phải đồng thời thỏa mãn hai điều kiện sau (1) Một bên trong tranh chấp (nguyên đơn hoặc bị đơn) là cá nhân đã chết (2) Không có người thừa kế quyền và nghĩa vụ của người đã chết đó. Đây là căn cứ để đình chỉ vụ tranh chấp vì theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài chỉ còn hiệu lực nếu người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của cá nhân đã chết tiếp tục nằm trong phạm vi điều chỉnh của thỏa thuận trọng tài. Như vậy, mặc dù điều kiện thứ nhất (một bên trong thỏa thuận trọng tài đã chết) đã được đáp ứng, nhưng vì không có người thừa kế hoặc đại diện hợp pháp để kế thừa quyền và nghĩa vụ liên quan, nên thỏa thuận trọng tài không còn hiệu lực. Do đó, Hội đồng trọng tài buộc phải ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp
+ Nguyên đơn hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức đã chấm dứt hoạt động, bị phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức mà không có cơ quan, tổ chức nào tiếp nhận quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó: Để được đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài trong trường hợp này cần đáp ứng được các điều kiện sau: Nguyên đơn hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có sự thay đổi về hình thức, cơ cấu tổ chức. Không có cơ quan, tổ chức nào khác tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của cơ quan tổ chức trên. Giải thích lý do tại sao trường hợp này lại có thể bị đình chỉ giải quyết tranh chấp trọng tài là bởi, theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010, điều kiện để được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đó là: một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức chấm dứt hoạt động, phá sản, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức. Tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức trên tiếp tục hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Do vậy, tuy đã đáp ứng điều kiện thức nhất là nguyên đơn hoặc bị đơn có sự thay đổi về hình thức của mình, nhưng lại không đáp ứng được điều kiện thứ hai là phải có tổ chức tiếp nhận quyền cũng như nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức trên. Từ đó, thỏa thuận trọng tài sẽ không còn hiệu lực và một khi thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực thì Hội đồng trọng tài buộc phải đình chỉ giải quyết vụ tranh chấp.
+ Nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc được coi là đã rút đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này, trừ trường hợp bị đơn yêu cầu tiếp tục giải quyết tranh chấp: trường hợp này khi đáp ứng được hai điều kiện. Cụ thể:
Nguyên đơn rút đơn khởi kiện của mình hoặc được coi là đã rút đơn khởi kiện. Các trường hợp mà nguyên đơn được coi là đã rút đơn khởi kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Trọng tài thương mại 2010, đó là: nguyên đơn đã vắng mặt tại phiên họp giải quyết tranh chấp khi không có lý do chính đáng dù đã được triệu tập một cách hợp lệ; Dù không nhận được sự chấp thuận của Hội đồng trọng tài, nguyên đơn vẫn rời khỏi phiên họp giải quyết tranh chấp. Bị đơn không yêu cầu Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp. Dù chỉ cần không đáp ứng một trong hai điều kiện này thì vụ tranh chấp sẽ không được Hội đồng trọng tài đình chỉ giải quyết. Chẳng hạn, nếu nguyên đơn đã rút đơn kiện nhưng bị đơn lại yêu cầu Hội đồng trọng tài vẫn tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp này, thì theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Trọng tài thương mại 2010, Hội đồng trọng tài sẽ giải quyết vụ tranh chấp theo yêu cầu của bị đơn. Đây là quy định tôn trọng quyền quyết định và sự tự do ý chí của các bên tranh chấp và Hội đồng trọng tài tạo điều kiện để các bên có thể thuận lợi thực hiện quyền lợi của mình.
+ Các bên thỏa thuận chấm dứt việc giải quyết tranh chấp: Đây là trường hợp đơn giản nhất để Hội đồng trọng tài có thể đình chỉ giải quyết tranh chấp, bởi chỉ cần đáp ứng một điều kiện duy nhất là có sự thỏa thuận của các bên về chấm dứt giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Sự thỏa thuận này của các bên phải dựa trên sự tự nguyện cũng như sự tự do ý chí của các chủ thể trong tranh chấp. Quy định này cũng có nghĩa là các bên tranh chấp không thể đơn phương yêu cầu Hội đồng trọng tài chấm dứt việc giải quyết tranh chấp mà không có sự thỏa thuận với bên còn lại. Lý do trường hợp này được đưa ra là bởi theo nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại là trọng tài phải tôn trọng thỏa thuận của các bên khi thỏa thuận này không vi phạm bất kỳ điều cấm nào của luật, cũng như không trái với các quy tắc đạo đức xã hội. Quy định này được đưa ra là để nhằm thể hiện sự tôn trọng của Hội đồng trọng tài với thỏa thuận của các bên tranh chấp.
+ Tòa án đã quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được theo quy định tại khoản 6 Điều 44 của Luật này: Các trường hợp không thuộc vào thẩm quyền giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài bao gồm: (1) Không có thỏa thuận trọng tài: thỏa thuận trọng tài có thể được lập vào thời điểm trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra (Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010), tuy nhiên dù vào thời điểm nào thì các bên đều không lập ra thỏa thuận trọng tài. Mà việc không có thỏa thuận trọng tài thì sẽ không đáp ứng được điều kiện để có thể giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. (2) Thỏa thuận trọng tài vô hiệu: đã được quy định tại Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 và Điều 3 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại. (3) Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được: các trường hợp mà thỏa thuận trọng tài được coi là không thể thực hiện được đã được quy định một cách chi tiết tại Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại.
Thứ hai, Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp. Trường hợp Hội đồng trọng tài chưa được thành lập thì Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.
Thứ ba, khi có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp, các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết lại vụ tranh chấp đó nếu việc khởi kiện vụ tranh chấp sau không có gì khác với vụ tranh chấp trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp quy định tại điểm c và điểm đ khoản 1 Điều 59 Luật Trọng tài thương mại 2010.

3. Thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết tranh chấp trọng tài
Một là, hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.
Hai là, trường hợp Hội đồng trọng tài chưa được thành lập, Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, trong trường hợp các bên tự thỏa thuận được với nhau chấm dứt việc giải quyết tranh chấp thì có quyền yêu cầu Chủ tịch Trung tâm trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.
4. Hậu quả pháp lý của quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp
Thứ nhất, không được yêu cầu Trọng tài giải quyết lại: Theo khoản 3 Điều 59 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định: “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp, các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết lại vụ tranh chấp đó nếu việc khởi kiện vụ tranh chấp sau không có gì khác với vụ tranh chấp trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp”. Theo quy định trên, khi Vụ tranh chấp đã được đình chỉ giải quyết thì các bên không có quyền khởi kiện yêu cầu trọng tài giải quyết lại Vụ tranh chấp đó.
Tuy nhiên, theo khoản 6 Điều 44 Luật này quy định “Trong trường hợp Tòa án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp. Nếu không có thỏa thuận khác, các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra Toà án”. Như vậy, phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để biết được các bên có thể khởi kiện ra Tòa án hay không.
Thứ hai, trường hợp được yêu cầu trọng tài giải quyết lại: Theo khoản 3 Điều 59 Luật Trọng tài thương mại đưa ra những ngoại lệ “trừ các trường hợp quy định tại điểm c và điểm đ khoản 1 Điều này”.
Tại điểm c khoản 1 Điều 59 quy định “c) Nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc được coi là đã rút đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này, trừ trường hợp bị đơn yêu cầu tiếp tục giải quyết tranh chấp”. Khoản 1 Điều 56 Luật Trọng tài thương mại có nêu “Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp mà vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc rời phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận thì bị coi là đã rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết tranh chấp nếu bị đơn có yêu cầu hoặc có đơn kiện lại”.
Tại điểm đ khoản 1 Điều 59 quy định “đ) Tòa án đã quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được theo quy định tại khoản 6 Điều 44 của Luật này” và Khoản 6 Điều 44 Luật Trọng tài thương mại quy định “Trong trường hợp Tòa án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp. Nếu không có thỏa thuận khác, các bên có quyền khởi kiện Vụ tranh chấp ra Toà án. Thời hiệu khởi kiện ra Toà án được xác định theo quy định của pháp luật. Thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài đến ngày Toà án ra quyết định thụ lý giải quyết vụ tranh chấp không tính vào thời hiệu khởi kiện”.
Như vậy, việc đình chỉ giải quyết tranh chấp sẽ dẫn đến hai tình huống là không được hoặc được yêu cầu trọng tài giải quyết lại.