Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và điều kiện phát sinh thẩm quyền của Tòa án

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Mục lục

Trong hoạt động thương mại, việc các bên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp ngày càng phổ biến nhờ tính linh hoạt, bảo mật và chuyên môn của trọng tài viên. Tuy nhiên, không phải cứ hợp đồng có điều khoản trọng tài thì Tòa án hoàn toàn không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, thẩm quyền của trọng tài và Tòa án được xác định dựa trên hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và các quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010.

Hiểu đúng khi nào thỏa thuận trọng tài có hiệu lực và trong những trường hợp nào Tòa án vẫn có thể giải quyết tranh chấp sẽ giúp doanh nghiệp lựa chọn đúng cơ chế bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời hạn chế những tranh chấp về thẩm quyền trong quá trình tố tụng.

1. Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài được hiểu như thế nào?

Theo khoản 2 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010, thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài đối với các tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh. Thỏa thuận này có thể được lập dưới dạng điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới dạng một thỏa thuận riêng.

Khi thỏa thuận trọng tài được xác lập hợp pháp, nó có hiệu lực ràng buộc đối với các bên trong tranh chấp. Điều này đồng nghĩa với việc các bên đã thống nhất loại trừ thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp thuộc phạm vi thỏa thuận trọng tài, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác.

Để làm phát sinh hiệu lực thỏa thuận trọng tài phải đáp ứng các điều kiện do Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định, bao gồm việc tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài, người xác lập có thẩm quyền và năng lực hành vi dân sự, hình thức của thỏa thuận phù hợp với quy định pháp luật, đồng thời nội dung của thỏa thuận không thuộc các trường hợp vô hiệu theo Điều 18 của Luật Trọng tài thương mại 2010.

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài còn được thể hiện ở nguyên tắc độc lập của điều khoản trọng tài quy định tại Điều 19 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Theo đó, điều khoản trọng tài được xem xét như là một điều khoản độc lập với các điều khoản khác nằm trong hợp đồng chính. Việc hợp đồng chính bị sửa đổi, gia hạn, hủy bỏ, vô hiệu hoặc không thể thực hiện không đương nhiên làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, trừ khi chính thỏa thuận trọng tài cũng thuộc trường hợp vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.

2. Phân biệt giữa thỏa thuận trọng tài vô hiệu và thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được

Điểm chung giữa thỏa thuận trọng tài vô hiệu và không thể thực hiện được là đều khiến cho quá trình tố tụng trọng tài không thể diễn ra được đồng thời làm phát sinh thẩm quyền của Tòa án. Tuy nhiên chúng lại mang bản chất pháp lý hoàn toàn khác biệt.

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trường hợp ngay từ đầu thỏa thuận không đáp ứng các điều kiện có hiệu lực theo Điều 18 Luật Trọng tài thương mại, chẳng hạn tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài, người ký kết không có thẩm quyền hoặc hình thức không đáp ứng yêu cầu của pháp luật. Khi đó, thỏa thuận trọng tài được xem là không có giá trị pháp lý và không làm phát sinh thẩm quyền của trọng tài. Nếu lúc này một trong các bên đưa tranh chấp ra Tòa án thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp này.

Thỏa thuận trọng tài vô hiệu
Thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Đối với thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì vốn dĩ thỏa thuận trọng tài là hợp lệ. Tuy nhiên, vì một số lý do khách quan và thực tế cho thấy rằng không thể làm phát sinh quá trình tố tụng trọng tài. Các trường hợp ấy được quy định tại Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP.

Điều 4. Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được quy định tại Điều 6 Luật TTTM

Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” quy định tại Điều 6 Luật TTTM là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp.

2. Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

3. Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế.

4. Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế.

5. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.”

3. Phát sinh thẩm quyền của Tòa án khi có thỏa thuận trọng tài

Một trong những hệ quả pháp lý quan trọng nhất của thỏa thuận trọng tài được quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Theo đó, khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài và thỏa thuận này có hiệu lực, nếu một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý vụ án, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.

Vậy nên, dù hai bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng khi thỏa thuận trọng tài ấy rơi vào các trường hợp bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện được theo quy đinh pháp luật, Tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp đó.

Quy định này thể hiện sự tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các bên cũng như hạn chế thẩm quyền can thiệp của Tòa án vào quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong một số trường hợp. Đồng thời, đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm tính ổn định và hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.

Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa án không chỉ phát sinh khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc không thể thực hiện được mà luật còn cho phép một trường hợp khác.

Theo quy định tại Điều 17 Luật Trọng tài thương mại 2010, nếu tranh chấp liên quan đến nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng thì luật cho phép người tiêu dùng có thể chọn giải quyết tranh chấp tại Tòa án mặc dù có thỏa thuận trọng tài hợp lệ trong hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Đây là cách mà pháp luật bảo vệ người tiêu dùng vốn được xem là bên yếu thế trong giao dịch với nhà cung cấp.

4. Điểm lưu ý dành cho doanh nghiệp

Để đảm bảo tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài thì việc xây dựng điều khoản trọng tài hợp pháp là điều hết sức quan trọng. Doanh nghiệp cần nắm các quy định pháp luật để tránh rơi trường hợp khi tranh chấp xảy ra lại không thể giải quyết bằng trọng tài vì thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện được.

Ngoài ra, doanh nghiệp khi xây dựng điều khoản trọng tài cần phải ghi nhận rõ ràng và chính xác về tên trung tâm trọng tài, số lượng trọng tài viên, địa điểm giải quyết tranh chấp và luật áp dụng nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh tranh chấp về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.

5. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss

Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:

5.1. Điều khoản trọng tài mẫu

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:

(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].

(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].

(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*

(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].**

Ghi chú:

*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài

**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

5.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 39 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:

(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].

(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*

(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **

Ghi chú:

*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài

**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!

6. Kết luận

Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài là cơ sở quan trọng để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa trọng tài và Tòa án. Theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010, khi tồn tại thỏa thuận trọng tài hợp pháp và có thể thực hiện được, Tòa án phải từ chối thụ lý vụ án. Chỉ khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu, không thể thực hiện được hoặc thuộc các trường hợp pháp luật quy định, thì khi đó mới phát sinh thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòa án.

Việc hiểu đúng mối quan hệ giữa thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của Tòa án không chỉ giúp doanh nghiệp xây dựng điều khoản trọng tài chặt chẽ mà còn góp phần bảo đảm quá trình giải quyết tranh chấp diễn ra nhanh chóng, đúng cơ quan có thẩm quyền và phù hợp với quy định của pháp luật.

.
Lên đầu trang

Đăng tài liệu

TIÊU ĐỀ BÀI ĐĂNG
NỘI DUNG BÀI ĐĂNG
tải tệp lên (chỉ pdf)
Maximum file size: 256 MB