Thi hành phán quyết trọng tài trong nước là giai đoạn bảo đảm các quyền và nghĩa vụ được xác định trong phán quyết được thực hiện trên thực tế. Khi bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, bên được thi hành có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tổ chức thi hành theo Luật Trọng tài thương mại và pháp luật về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thủ tục cụ thể còn phụ thuộc vào hình thức trọng tài đã giải quyết tranh chấp.
1. Khái quát chung về thi hành phán quyết trọng tài trong nước
Thi hành phán quyết trọng tài trong nước là quá trình thực hiện các nghĩa vụ được Hội đồng trọng tài xác định trong phán quyết, bao gồm nghĩa vụ thanh toán, giao tài sản, thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định và các nghĩa vụ khác theo nội dung phán quyết.
Khác với bản án của Tòa án, phán quyết trọng tài không được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm. Việc thi hành trước hết dựa trên nguyên tắc tự nguyện của các bên; trường hợp bên phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ, bên được thi hành có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành theo quy định.
1.1. Hiệu lực pháp lý của phán quyết trọng tài
Theo khoản 5 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại 2010, phán quyết trọng tài có tính chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Điều này có nghĩa các bên không có quyền kháng cáo phán quyết để yêu cầu Hội đồng trọng tài cấp trên hoặc Tòa án xét xử lại tranh chấp như cơ chế xét xử thông thường.
Tuy nhiên, tính chung thẩm không đồng nghĩa với việc phán quyết không thể bị Tòa án xem xét. Theo Điều 68 và Điều 69 Luật Trọng tài thương mại, một bên có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết nếu có căn cứ thuộc trường hợp luật định và thực hiện yêu cầu trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được phán quyết, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.
Việc xem xét hủy phán quyết không phải là thủ tục xét xử lại nội dung tranh chấp. Tòa án chỉ kiểm tra các căn cứ hủy được quy định tại Điều 68, chẳng hạn như không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thành phần Hội đồng trọng tài hoặc thủ tục tố tụng không phù hợp, tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, chứng cứ giả mạo hoặc phán quyết trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Như vậy, phán quyết có hiệu lực từ ngày ban hành nhưng việc yêu cầu thi hành vẫn phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 66 Luật Trọng tài thương mại và pháp luật về thi hành án dân sự.
1.2. Nguyên tắc tự nguyện và cơ chế cưỡng chế thi hành
Theo Điều 65 Luật Trọng tài thương mại, Nhà nước khuyến khích các bên tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài. Đây là phương thức thực hiện nghĩa vụ được ưu tiên, giúp các bên hạn chế chi phí và thời gian phát sinh từ quá trình tổ chức thi hành.
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ cần được xác định theo nội dung phán quyết. Khoản 1 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại yêu cầu phán quyết phải thể hiện thời hạn thi hành. Vì vậy, bên phải thi hành cần thực hiện nghĩa vụ theo thời hạn đã được Hội đồng trọng tài xác định, thay vì mặc nhiên áp dụng một thời hạn chung cho mọi phán quyết.
Trường hợp thời hạn thi hành đã hết nhưng bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện, bên được thi hành có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 66 Luật Trọng tài thương mại.
Khi cơ quan thi hành án đã ra quyết định và thông báo hợp lệ, bên phải thi hành tiếp tục có thời hạn tự nguyện theo Điều 36 Luật Thi hành án dân sự 2025. Nếu hết thời hạn này mà người phải thi hành có điều kiện nhưng vẫn không thực hiện, cơ quan thi hành án có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định.
2. Căn cứ pháp lý và cơ quan có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài trong nước
Việc thi hành phán quyết trọng tài trong nước không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Trọng tài thương mại mà còn phải tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự. Bên cạnh đó, việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền còn phụ thuộc vào địa điểm Hội đồng trọng tài ra phán quyết và hình thức trọng tài mà các bên lựa chọn.
2.1. Căn cứ pháp lý áp dụng
Các văn bản pháp luật trọng tâm điều chỉnh hoạt động thi hành phán quyết trọng tài trong nước gồm:
Thứ nhất, Luật Trọng tài thương mại 2010.
Luật Trọng tài thương mại 2010, được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 60/VBHN-VPQH ngày 15/08/2025, quy định trực tiếp về hiệu lực phán quyết, đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc và quyền yêu cầu thi hành. Các điều khoản cần lưu ý gồm:
- Điều 61: Quy định nội dung, hình thức và hiệu lực của phán quyết trọng tài.
- Điều 62: Quy định việc đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc.
- Điều 65: Quy định nguyên tắc tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài.
- Điều 66: Quy định quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài.
- Điều 67: Quy định phán quyết trọng tài được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.
- Điều 68 và Điều 69: Quy định căn cứ và quyền yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
Thứ hai, Luật Thi hành án dân sự 2025.
Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026 và thay thế Luật Thi hành án dân sự 2008. Đây là căn cứ pháp lý hiện hành điều chỉnh trình tự, thủ tục tổ chức thi hành phán quyết trọng tài trong nước.
Một số quy định đáng chú ý gồm:
- Khoản 3 Điều 2: Xác định phán quyết trọng tài và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài là văn bản được thi hành theo Luật này.
- Điều 31: Quy định việc tổ chức thi hành án của Văn phòng thi hành án dân sự và Thừa hành viên.
- Điều 32: Quy định thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự.
- Điều 34: Quy định yêu cầu và ra quyết định thi hành án theo yêu cầu, thời hiệu yêu cầu thi hành án.
- Điều 36: Quy định thời hạn tự nguyện và thỏa thuận thi hành án.
- Điều 37: Quy định việc xác minh điều kiện thi hành án.
- Điều 71 và Điều 72: Quy định các biện pháp và điều kiện áp dụng cưỡng chế thi hành án.
2.2. Cơ quan có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài
Trong quá trình thi hành phán quyết trọng tài trong nước, Hội đồng trọng tài, Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự đảm nhiệm những chức năng khác nhau. Việc phân định đúng thẩm quyền giúp các bên tránh nhầm lẫn giữa hoạt động giải quyết tranh chấp, đăng ký phán quyết và tổ chức thi hành.
Đối với Hội đồng trọng tài và Trung tâm trọng tài
Hội đồng trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và ban hành phán quyết theo thỏa thuận trọng tài, quy tắc tố tụng được áp dụng và quy định pháp luật. Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc có trách nhiệm cấp bản sao phán quyết theo yêu cầu của các bên theo khoản 4 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại.
Sau khi phán quyết được ban hành, Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền tổ chức cưỡng chế hoặc trực tiếp thu hồi tài sản từ bên phải thi hành. Trường hợp cần áp dụng cơ chế thi hành bắt buộc, bên được thi hành phải thực hiện quyền yêu cầu theo Điều 66 Luật Trọng tài thương mại.
Đối với Tòa án nhân dân
Tòa án không thực hiện thủ tục công nhận và cho thi hành đối với phán quyết trọng tài trong nước như đối với phán quyết trọng tài nước ngoài. Tuy nhiên, Tòa án vẫn tham gia vào một số hoạt động hỗ trợ và giám sát theo quy định của Luật Trọng tài thương mại.
Đáng chú ý, đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, Tòa án thực hiện thủ tục đăng ký theo Điều 62 trước khi bên được thi hành yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Ngoài ra, Tòa án có thẩm quyền xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài khi có đơn hợp lệ của một bên.
Theo khoản 3 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại được hợp nhất tại Văn bản hợp nhất số 60/VBHN-VPQH, thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc thuộc một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo phạm vi lãnh thổ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định. Phạm vi này hiện được xác định theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 04/2026/UBTVQH16.
Đối với cơ quan thi hành án dân sự
Đây là cơ quan trực tiếp tổ chức thi hành phán quyết trọng tài khi bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ và các điều kiện luật định đã được đáp ứng.
Theo điểm h khoản 1 Điều 32 Luật Thi hành án dân sự 2025, Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài thuộc phạm vi địa bàn tương ứng. Quy định này cũng phù hợp với Điều 8 Luật Trọng tài thương mại, theo đó cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền là cơ quan cấp tỉnh, thành phố nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết.
Bên cạnh cơ quan thi hành án dân sự, Luật Thi hành án dân sự 2025 còn ghi nhận quyền lựa chọn Văn phòng thi hành án dân sự để yêu cầu tổ chức thi hành theo Điều 6 và Điều 31. Tuy nhiên, Văn phòng thi hành án dân sự không được tự áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc biện pháp cưỡng chế. Khi cần áp dụng những biện pháp này, việc tổ chức thi hành phải được chuyển đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền theo quy định.
2.3. Điều kiện yêu cầu thi hành đối với từng hình thức trọng tài
Một điểm cần phân biệt khi thực hiện thủ tục thi hành là phán quyết được ban hành bởi Trọng tài quy chế hay Trọng tài vụ việc. Mặc dù cả hai đều là phán quyết trọng tài trong nước, điều kiện về đăng ký trước khi yêu cầu thi hành không giống nhau.
Đối với phán quyết của Trọng tài quy chế
Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài theo Luật Trọng tài thương mại. Đối với phán quyết do Hội đồng trọng tài được thành lập theo hình thức này ban hành, bên được thi hành không phải thực hiện thủ tục đăng ký phán quyết tại Tòa án.
Theo khoản 1 Điều 66 Luật Trọng tài thương mại, bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền khi đã hết thời hạn thi hành mà bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện và cũng không yêu cầu hủy phán quyết theo Điều 69 của Luật này.
Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc
Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp do các bên thành lập Hội đồng trọng tài theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Trọng tài thương mại. Khác với Trọng tài quy chế, phán quyết của Trọng tài vụ việc phải được đăng ký tại Tòa án trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.
Theo Điều 62 Luật Trọng tài thương mại, việc đăng ký được thực hiện theo yêu cầu của một hoặc các bên tranh chấp tại Tòa án có thẩm quyền nơi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết. Thời hạn yêu cầu đăng ký là 01 năm kể từ ngày ban hành phán quyết.
Hồ sơ đăng ký gồm phán quyết trọng tài do Hội đồng trọng tài vụ việc ban hành; biên bản phiên họp giải quyết tranh chấp nếu có; và bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài đã được chứng thực hợp lệ. Tòa án kiểm tra tính xác thực của tài liệu trước khi thực hiện đăng ký, không xem xét lại nội dung tranh chấp đã được Hội đồng trọng tài giải quyết.
Việc đăng ký hoặc không đăng ký không làm thay đổi nội dung và giá trị pháp lý của phán quyết. Tuy nhiên, đây là thủ tục cần thiết để bên được thi hành có thể yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo khoản 2 Điều 66 Luật Trọng tài thương mại.
3. Trình tự, thủ tục thi hành phán quyết trọng tài trong nước
Sau khi xác định phán quyết đáp ứng điều kiện thi hành, bên được thi hành cần thực hiện các bước tương ứng với hình thức trọng tài và quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
3.1. Xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ và tình trạng phán quyết
Trước khi yêu cầu thi hành, bên được thi hành cần kiểm tra nội dung phán quyết để xác định nghĩa vụ, thời hạn thực hiện và tình trạng pháp lý của phán quyết.
Theo điểm g khoản 1 Điều 61 Luật Trọng tài thương mại, phán quyết phải thể hiện thời hạn thi hành. Vì vậy, cần xác định chính xác thời điểm nghĩa vụ đến hạn, đặc biệt đối với các nghĩa vụ thanh toán theo từng đợt, nghĩa vụ giao tài sản hoặc nghĩa vụ thực hiện công việc trong một khoảng thời gian nhất định.
Đồng thời, bên được thi hành cần kiểm tra việc bên phải thi hành có nộp đơn yêu cầu Tòa án hủy phán quyết hay không. Theo khoản 1 Điều 66, quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự được đặt ra khi bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện và cũng không yêu cầu hủy phán quyết theo Điều 69.
Trường hợp Tòa án đã xem xét yêu cầu hủy nhưng quyết định không hủy phán quyết, khoản 8 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại quy định phán quyết được thi hành.
3.2. Thực hiện đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc nếu thuộc trường hợp bắt buộc
Đối với phán quyết của Trọng tài vụ việc, bên được thi hành phải hoàn thành thủ tục đăng ký theo Điều 62 Luật Trọng tài thương mại trước khi chuyển sang bước yêu cầu thi hành.
Đơn đăng ký được gửi đến Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 62. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn, Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán xem xét. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được phân công, Thẩm phán kiểm tra tính xác thực của tài liệu và thực hiện đăng ký nếu đáp ứng yêu cầu.
Trường hợp xác định phán quyết trọng tài không có thật, Thẩm phán từ chối đăng ký, trả lại đơn và tài liệu kèm theo, đồng thời thông báo lý do cho người yêu cầu. Người yêu cầu có quyền khiếu nại quyết định từ chối theo thời hạn và trình tự quy định tại Điều 62.
Đối với phán quyết của Trọng tài quy chế, bước đăng ký này không được đặt ra. Bên được thi hành có thể chuyển sang yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự khi đã đáp ứng điều kiện tại Điều 66.
3.3. Gửi yêu cầu thi hành đến cơ quan có thẩm quyền
Sau khi đáp ứng điều kiện thi hành, bên được thi hành có thể gửi yêu cầu đến Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết. Trường hợp lựa chọn Văn phòng thi hành án dân sự, việc tổ chức thi hành được thực hiện theo phạm vi và điều kiện quy định tại Điều 31 Luật Thi hành án dân sự 2025.
Theo Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025, việc yêu cầu thi hành án có thể thực hiện trên môi trường số, trực tiếp nộp đơn, trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua đường bưu điện.
Khi chuẩn bị hồ sơ, bên được thi hành nên cung cấp đầy đủ những tài liệu cần thiết, bao gồm:
- Văn bản yêu cầu thi hành phán quyết, trong đó xác định rõ người yêu cầu, người phải thi hành, nội dung và phạm vi nghĩa vụ cần thi hành.
- Bản chính hoặc bản sao hợp lệ của phán quyết trọng tài.
- Tài liệu thể hiện việc đăng ký phán quyết đối với trường hợp Trọng tài vụ việc.
- Thông tin về địa chỉ, tài khoản, tài sản và các điều kiện thi hành của người phải thi hành nếu có.
Khi tiếp nhận yêu cầu và tài liệu kèm theo, cơ quan thi hành án dân sự kiểm tra điều kiện tiếp nhận. Theo khoản 3 Điều 34, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu và phán quyết, trừ trường hợp có căn cứ từ chối theo khoản 4 Điều này.
Một vấn đề cần lưu ý là thời hiệu yêu cầu thi hành án theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 là 05 năm kể từ ngày phán quyết có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Trường hợp có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc tình trạng khẩn cấp khiến người yêu cầu không thể thực hiện đúng thời hạn, thời gian xảy ra sự kiện đó được loại trừ theo quy định.
3.4. Tổ chức thi hành và áp dụng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết
Sau khi có quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự thông báo hợp lệ cho người phải thi hành để họ thực hiện nghĩa vụ. Theo khoản 1 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự 2025, thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ ngày người phải thi hành án được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, trừ trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn này, người phải thi hành có thể chủ động thanh toán, giao tài sản hoặc thực hiện nghĩa vụ theo phán quyết. Các bên cũng có quyền thỏa thuận về phương thức, thời gian và nội dung thực hiện nghĩa vụ, nhưng thỏa thuận phải tuân thủ điều kiện tại Điều 36.
Nếu hết thời hạn tự nguyện mà người phải thi hành không thực hiện nghĩa vụ, Chấp hành viên tiến hành xác minh điều kiện thi hành án theo Điều 37. Việc xác minh tập trung vào tài sản, thu nhập và các điều kiện khác có thể sử dụng để thực hiện nghĩa vụ. Luật quy định thời hạn tiến hành xác minh là 09 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Khi người phải thi hành có điều kiện nhưng không tự nguyện thực hiện, cơ quan thi hành án có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế theo Điều 71 và Điều 72 Luật Thi hành án dân sự 2025. Các biện pháp có thể bao gồm khấu trừ tiền trong tài khoản, trừ vào thu nhập, khai thác tài sản, kê biên và xử lý tài sản hoặc buộc thực hiện, không thực hiện một công việc nhất định.
Việc lựa chọn biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ và tuân thủ trình tự luật định. Mục đích của giai đoạn này là bảo đảm nghĩa vụ đã được xác định trong phán quyết được thực hiện trên thực tế, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
4. Những rủi ro cần lưu ý khi thi hành phán quyết trọng tài trong nước
Việc phán quyết có hiệu lực không đồng nghĩa với việc bên được thi hành chắc chắn thu hồi được tiền hoặc tài sản. Trong quá trình thực hiện, doanh nghiệp có thể gặp trở ngại từ việc chuẩn bị hồ sơ, thủ tục đăng ký, thời hạn yêu cầu đến khả năng thi hành thực tế của bên có nghĩa vụ.
4.1. Nhầm lẫn giữa hiệu lực phán quyết và điều kiện yêu cầu thi hành
Phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành theo Điều 61, nhưng quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự chỉ phát sinh khi đáp ứng các điều kiện tại Điều 66. Nếu bên được thi hành gửi yêu cầu trước khi hết thời hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc khi bên phải thi hành đã yêu cầu hủy phán quyết, việc tiếp nhận và xử lý yêu cầu có thể gặp trở ngại.
Do đó, doanh nghiệp cần đối chiếu thời hạn thi hành ghi trong phán quyết, tình trạng yêu cầu hủy và loại hình trọng tài trước khi gửi hồ sơ. Việc xác định đúng thời điểm yêu cầu giúp tránh mất thời gian xử lý những hồ sơ chưa đáp ứng điều kiện luật định.
4.2. Bỏ sót thủ tục đăng ký đối với phán quyết trọng tài vụ việc
Một sai sót khác là áp dụng cùng một quy trình thi hành cho cả Trọng tài quy chế và Trọng tài vụ việc. Theo Điều 62 và khoản 2 Điều 66 Luật Trọng tài thương mại, phán quyết của Trọng tài vụ việc phải được đăng ký tại Tòa án trước khi yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành.
Đặc biệt, thời hạn yêu cầu đăng ký là 01 năm kể từ ngày ban hành phán quyết. Nếu doanh nghiệp không theo dõi thời hạn này hoặc không chuẩn bị đủ tài liệu, việc chuyển sang giai đoạn thi hành có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, cần kiểm tra hình thức trọng tài ngay khi nhận được phán quyết để xác định thủ tục tiếp theo.
4.3. Không xác minh đầy đủ tài sản và điều kiện thi hành của bên phải thi hành
Một phán quyết có thể xác định rõ nghĩa vụ thanh toán nhưng việc thu hồi khoản tiền đó vẫn phụ thuộc vào tài sản và điều kiện thi hành của bên có nghĩa vụ. Trường hợp người phải thi hành không có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện phù hợp, việc tổ chức thi hành có thể kéo dài và chưa đạt kết quả như mong muốn.
Vì vậy, doanh nghiệp nên chủ động thu thập thông tin hợp pháp về tài khoản, tài sản, quyền tài sản, bất động sản và các nguồn thu của bên phải thi hành. Những thông tin này hỗ trợ cơ quan thi hành án xác minh, lựa chọn biện pháp phù hợp và hạn chế nguy cơ tài sản bị chuyển dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.
4.4. Không kiểm tra thời hiệu và nội dung nghĩa vụ trong phán quyết
Thời hiệu yêu cầu thi hành án theo Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025 là 05 năm, được tính từ ngày phán quyết có hiệu lực hoặc từ ngày nghĩa vụ đến hạn theo trường hợp tương ứng. Doanh nghiệp cần phân biệt thời hạn này với thời hạn 30 ngày để yêu cầu hủy phán quyết và thời hạn 01 năm để đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc.
Ngoài ra, nội dung phán quyết cần xác định rõ chủ thể phải thực hiện, đối tượng nghĩa vụ, số tiền hoặc tài sản phải giao, thời hạn và phương thức thực hiện. Nếu phán quyết thể hiện nghĩa vụ không rõ ràng hoặc thiếu thông tin cần thiết, việc tổ chức thi hành có thể phát sinh khó khăn, đặc biệt khi phải xác minh tài sản hoặc xác định phạm vi nghĩa vụ còn phải thực hiện.
Doanh nghiệp nên rà soát kỹ nội dung phán quyết ngay sau khi nhận được. Trường hợp phát hiện lỗi chính tả, số liệu hoặc nội dung cần giải thích, các bên có thể cân nhắc yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa, giải thích theo Điều 63 Luật Trọng tài thương mại trong thời hạn và điều kiện luật định.
5. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss
Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
5.1. Điều khoản trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].**
Ghi chú:
*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
5.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 39 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!
6. Kết luận
Thi hành phán quyết trọng tài trong nước là bước quan trọng để bảo đảm kết quả giải quyết tranh chấp được thực hiện trên thực tế. Để quá trình này diễn ra thuận lợi, doanh nghiệp cần xác định đúng thời điểm yêu cầu, phân biệt thủ tục áp dụng đối với Trọng tài quy chế và Trọng tài vụ việc, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ và chủ động xác minh điều kiện thi hành của bên có nghĩa vụ.
Đồng thời, việc theo dõi thời hiệu và nắm rõ các biện pháp thi hành án dân sự giúp hạn chế rủi ro kéo dài hoặc không thu hồi được quyền lợi theo phán quyết. BBIAC đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm hiểu và sử dụng phương thức trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp.

