Trong thực tiễn giao kết hợp đồng, người đặt bút ký tên có khi là người vốn không có thẩm quyền ký kết hợp đồng. Câu hỏi đặt ra là nếu hợp đồng có tồn tại thỏa thuận trọng tài thì khi tranh chấp phát sinh, liệu thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng có bị vô hiệu hay không?
Theo Luật Trọng tài thương mại 2010, việc người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền là một căn cứ ảnh hưởng đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu lực không chỉ dừng lại ở thời điểm ký kết mà còn phải xem xét, đánh giá đến hành vi của người có thẩm quyền trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận hoặc tố tụng trọng tài.
1. Thế nào là người không có thẩm quyền xác lập thỏa thuận trọng tài?
Trong hợp đồng thương mại có tồn tại một thỏa thuận trọng tài, khi người không có thẩm quyền xác lập thì theo khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010, thỏa thuận trọng tài sẽ vô hiệu khi “người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.
Người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền được định nghĩa tại khoàn 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là người xác lập thỏa thuận trọng tài nhưng không phải người đại diện theo pháp luật, không phải người được ủy quyền hợp pháp hoặc là người được ủy quyền nhưng vượt quá phạm vi ủy quyền.
Chẳng hạn như doanh nghiệp A ký hợp đồng với doanh nghiệp B. Người ký phía A là Trưởng phòng kinh doanh nhưng giấy ủy quyền của người này chỉ cho phép đàm phán và ký hợp đồng, không bao gồm quyền thỏa thuận phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Trong trường hợp này, cần xem xét riêng thẩm quyền của người ký đối với thỏa thuận trọng tài, thay vì chỉ dựa vào việc người đó có được phép ký hợp đồng hay không.
2. Người ký không có thẩm quyền có làm thỏa thuận trọng tài đương nhiên vô hiệu không?
2.1. Là căn cứ xem xét hiệu lực, cần đánh giá toàn bộ quá trình
Khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định việc người xác lập thỏa thuận trọng tài không có thẩm quyền là một trong những trường hợp làm thỏa thuận trọng tài vô hiệu.
Tuy nhiên, Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP đã đặt ra một trường hợp đặc biệt: nếu thỏa thuận trọng tài do người không có thẩm quyền xác lập nhưng người có thẩm quyền sau đó chấp nhận hoặc đã biết mà không phản đối, thì thỏa thuận trọng tài không vô hiệu.
Vì vậy, không nên chỉ nhìn vào thẩm quyền của người đại diện ký hợp đồng để kết luận ngay rằng thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý. Về nguyên tắc thì cần tiếp tục xác định doanh nghiệp hoặc người có thẩm quyền có hành vi thể hiện sự chấp nhận đối với thỏa thuận trọng tài hay không.
2.2. Sự chấp nhận phát sinh sau thời điểm ký hợp đồng
Điểm đáng chú ý là Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP không quy định giới hạn sự chấp nhận chỉ ở thời điểm giao kết. Việc chấp nhận có thể được xem xét trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận trọng tài hoặc trong tố tụng trọng tài.
Do đó, một thỏa thuận trọng tài ban đầu được xác lập bởi người không có thẩm quyền vẫn có thể được duy trì hiệu lực nếu sau đó người có thẩm quyền chấp nhận hoặc biết nhưng không phản đối theo trường hợp được pháp luật cho phép.
3. Khi nào thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng phát sinh hiệu lực?
Khi thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong hợp đồng thì hiệu lực của thỏa thuận sẽ phát sinh theo các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, người ký có thẩm quyền. Người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp pháp xác lập thỏa thuận trọng tài trong phạm vi thẩm quyền thì đương nhiên không phát sinh vấn đề vô hiệu do thiếu thẩm quyền.
Thứ hai, người ký không có thẩm quyền nhưng người có thẩm quyền chấp nhận. Đây là trường hợp được Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ghi nhận. Sự chấp nhận có thể xảy ra trong quá trình xác lập hoặc thực hiện thỏa thuận trọng tài.
Thứ ba, người có thẩm quyền biết nhưng không phản đối. Nếu người có thẩm quyền biết về thỏa thuận trọng tài nhưng không phản đối trong quá trình xác lập, thực hiện thỏa thuận hoặc tố tụng trọng tài, thì theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, thỏa thuận trọng tài không bị coi là vô hiệu chỉ vì lý do người ký ban đầu không có thẩm quyền.
Như vậy, các yếu tố cần xem xét không chỉ là “ai đã ký?”, “người ký có thẩm quyền hay không?” mà còn là “người có thẩm quyền thực sự đã có hành vi gì sau khi biết về thỏa thuận trọng tài?”
4. Việc đánh giá hiệu lực thỏa thuận trọng tài được thực hiện như thế nào?
Khi tranh chấp phát sinh, vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có thể được xem xét trước khi Hội đồng trọng tài tiến hành việc giải quyết nội dung tranh chấp.
Theo Điều 43 Luật Trọng tài thương mại 2010, Hội đồng trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, khả năng thực hiện của thỏa thuận và đồng thời là đánh giá thẩm quyền của mình.
Trường hợp có bên không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài hoặc thẩm quyền, bên đó có thể gửi văn bản khiếu nại đến Tòa án theo Điều 44 của Luật này.
Trong quá trình xem xét, các vấn đề mà Hội đồng trọng tài cần được làm rõ có thể bao gồm:
- Người ký có phải là người đại diện theo pháp luật hay không;
- Có văn bản ủy quyền hay không;
- Phạm vi ủy quyền có bao gồm quyền thỏa thuận trọng tài hay không;
- Người có thẩm quyền có biết về thỏa thuận trọng tài hay không;
- Sau khi biết, người có thẩm quyền có hành vi phản đối hay không;
- Các bên có tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc tố tụng trọng tài trên cơ sở thỏa thuận đó hay không.
Đặc biệt, thỏa thuận trọng tài mang tính độc lập với hợp đồng theo Điều 19 Luật Trọng tài thương mại 2010. Vì vậy, việc xác định hiệu lực của điều khoản trọng tài cần được xem xét như một vấn đề pháp lý riêng, hoàn toàn không phụ thuộc vào hiệu lực của toàn bộ hợp đồng.
5. Một số lưu ý khi doanh nghiệp giao kết hợp đồng có thỏa thuận trọng tài
Từ góc độ thực tiễn, doanh nghiệp cần đặc biệt kiểm tra thẩm quyền của người ký trước khi giao kết hợp đồng có điều khoản trọng tài.
Trước hết, cần xác định người ký là đại diện theo pháp luật hay đại diện theo ủy quyền. Nếu ký theo ủy quyền, doanh nghiệp nên kiểm tra rõ phạm vi, thời hạn và nội dung của giấy ủy quyền, đặc biệt là quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp.
Bên cạnh đó, điều khoản trọng tài nên được thể hiện rõ ràng và đáp ứng yêu cầu về hình thức theo Điều 16 Luật Trọng tài thương mại 2010. Luật cho phép thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới dạng điều khoản trong hợp đồng hoặc thỏa thuận riêng và công nhận một số hình thức trao đổi điện tử, trao đổi bằng văn bản và các trường hợp khác có giá trị pháp lý tương đương.
Đối với bên đối tác, việc kiểm tra thẩm quyền của người ký cũng có ý nghĩa quan trọng. Khi có nghi ngờ về thẩm quyền, việc yêu cầu được xác nhận, bổ sung giấy ủy quyền hoặc văn bản phê chuẩn của người có thẩm quyền có thể giúp hạn chế tranh chấp về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài sau này.
Khi các bên có thỏa thuận trọng tài hợp lệ và tranh chấp thuộc phạm vi giải quyết của trọng tài, các bên có thể lựa chọn Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Bigboss (BBIAC) theo thỏa thuận của mình.
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, Hội đồng trọng tài sẽ xem xét vấn đề này theo quy định của pháp luật và theo quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm được áp dụng. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các tranh chấp mà một bên cho rằng người ký hợp đồng hoặc điều khoản trọng tài không có thẩm quyền xác lập.
Do đó, ngay từ giai đoạn giao kết hợp đồng, các bên nên xác định rõ người có thẩm quyền ký kết, phạm vi đại diện và nội dung điều khoản trọng tài, qua đó hạn chế tranh chấp về thẩm quyền và hiệu lực thỏa thuận khi tranh chấp phát sinh.

6. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Bigboss
Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
6.1. Điều khoản trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].**
Ghi chú:
*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
6.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 39 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
*Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
**Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!
7. Kết luận
Việc người ký hợp đồng không có thẩm quyền không nên được xem xét một cách tách biệt chỉ tại thời điểm ký kết. Theo khoản 2 Điều 18 Luật Trọng tài thương mại 2010 và hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, cần xem xét cả việc người có thẩm quyền có chấp nhận hoặc biết mà không phản đối thỏa thuận trọng tài trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc tố tụng trọng tài hay không.
Vì vậy, trong thực tiễn, việc xác định hiệu lực thỏa thuận trọng tài cần dựa trên thẩm quyền của người ký và hành vi của người có thẩm quyền sau đó, thay vì chỉ dựa vào thẩm quyền của người ký tại thời điểm giao kết hợp đồng.
