Thời gian làm việc: 07:30 - 11:45 và 13:15 - 17:00 từ Thứ Hai đến Thứ Bảy

Trọng tài thương mại và các vấn đề về thẩm quyền

Trọng tài thương mại và các vấn đề về thẩm quyền
Mục lục

Bài viết phân tích các khía cạnh pháp lý về thẩm quyền của trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010 (sửa đổi, bổ sung 2025) và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, từ phạm vi thẩm quyền theo Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, các yếu tố ảnh hưởng như hiệu lực thỏa thuận trọng tài và tính khả trọng tài của tranh chấp.

1. Quy định về thẩm quyền trong trọng tài thương mại

Thẩm quyền trong trọng tài thương mại là nền tảng pháp lý xác lập khả năng của cơ chế tài phán tư trong việc giải quyết tranh chấp, được giới hạn bởi ý chí của các bên và phạm vi điều chỉnh của pháp luật.

Luật Trọng tài thương mại 2010 (Sửa đổi, bổ sung 2025), quy định tại Điều 2 ba nhóm tranh chấp thuộc thẩm quyền của trọng tài: (i) tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; và (iii) tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Cách tiếp cận này vừa đảm bảo tính linh hoạt cho các chủ thể thương mại, vừa duy trì sự kiểm soát của Nhà nước.

Bên cạnh phạm vi tranh chấp, thẩm quyền của trọng tài còn phụ thuộc vào sự tồn tại của một thỏa thuận trọng tài hợp pháp. Theo khoản 1 điều 5 Luật TTTM 2010, tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài.

Hơn nữa, Điều 6 Luật TTTM 2010 khẳng định: khi các bên đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được. Điều này cho thấy, thỏa thuận Trọng tài đóng một vai trò vô cùng quan trọng để có thể đưa một vụ tranh chấp giải quyết bằng phương thức Trọng tài.

Hơn nữa, trước khi tiến hành xem xét nội dung của vụ tranh chấp, Hội đồng trọng tài phải xem xét tính hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của mình ngay trong quá trình tố tụng; nếu xác định tranh chấp không thuộc thẩm quyền của mình, thỏa thuận vô hiệu, thỏa thuận Trọng tài không thể thực hiện được thì Hội đồng Trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết.

Mặt khác, sự tương tác giữa Trọng tài và Tòa án được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều 414 xác định tám loại việc dân sự liên quan đến hoạt động trọng tài thuộc thẩm quyền của Tòa án, bao gồm:

Điều 414. Những việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên.
2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
3. Hủy phán quyết trọng tài.
4. Giải quyết khiếu nại đối với quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.
5. Thu thập chứng cứ.
6. Triệu tập người làm chứng.
7. Đăng ký phán quyết trọng tài.
8. Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam có quy định.

Cơ chế này thể hiện mô hình “hỗ trợ và giám sát” của Tòa án đối với trọng tài, trong đó Tòa án không thay thế trọng tài mà chỉ can thiệp khi cần thiết để bảo đảm tính tuân thủ pháp luật.

2. Cách xác định và giải quyết tranh chấp thẩm quyền

Vấn đề cốt lõi của tranh chấp thẩm quyền là xác định cơ quan nào có quyền quyết định cuối cùng về thẩm quyền của trọng tài. Luật TTTM 2010 đã nội luật hóa nguyên tắc competence-competence (nguyên tắc tự quyết định thẩm quyền) theo hướng trao cho Hội đồng trọng tài quyền chủ động xem xét thẩm quyền của mình. Nghiên cứu học thuật trên Tạp chí Luật sư Việt Nam (VJOL) chỉ rõ: nguyên tắc này không chỉ nâng cao hiệu quả tố tụng mà còn góp phần duy trì tính liên tục của các quan hệ thương mại, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng phức tạp.

Nguyên tắc trên được cụ thể hoá tại điều 43 khi buộc Hội đồng Trọng tài phải xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài; thỏa thuận trọng tài có thể thực hiện được hay không và xem xét thẩm quyền của mình. Hơn nữa, Luật TTTM 2010 còn quy định về cơ chế khiếu nại ra Toà án của các bên khi không đồng ý với quyết định của Hội đồng Trọng tài tại điều 43 Luật TTTM 2010. Cơ chế này giúp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp bằng phương thức Trọng tài trong bối cảnh hội nhập. Điều này được cụ thể hoá tại điều 44 Luật TTTM 2010.

Điều 44. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về việc không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài

1. Trong trường hợp không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài quy định tại Điều 43 của Luật này, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Hội đồng trọng tài, các bên có quyền gửi đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài. Bên khiếu nại phải đồng thời thông báo việc khiếu nại cho Hội đồng trọng tài.

2. Đơn khiếu nại phải có những nội dung chủ yếu sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khiếu nại;
b) Tên và địa chỉ của bên khiếu nại;
c) Nội dung yêu cầu.

3. Đơn khiếu nại phải kèm theo bản sao đơn khởi kiện, thoả thuận trọng tài, quyết định của Hội đồng trọng tài. Trường hợp giấy tờ kèm theo bằng tiếng nước ngoài thì phải dịch ra tiếng Việt và được chứng thực hợp lệ.

4. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán xem xét, giải quyết đơn khiếu nại. Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét, quyết định. Quyết định của Toà án là cuối cùng.

5. Trong khi Tòa án giải quyết đơn khiếu nại, Hội đồng trọng tài vẫn có thể tiếp tục giải quyết tranh chấp.

6. Trong trường hợp Toà án quyết định vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, không có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, Hội đồng trọng tài ra quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp.Nếu không có thoả thuận khác, các bên có quyền khởi kiện vụ tranh chấp ra Toà án. Thời hiệu khởi kiện ra Toà án được xác định theo quy định của pháp luật. Thời gian từ ngày nguyên đơn khởi kiện tại Trọng tài đến ngày Toà án ra quyết định thụ lý giải quyết vụ tranh chấp không tính vào thời hiệu khởi kiện.

Trên thực tế, thực tiễn xét xử cho thấy Tòa án Việt Nam đã có những bước tiến trong việc tôn trọng thẩm quyền của trọng tài. Án lệ số 69/2023/AL là một ví dụ điển hình: Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã bảo vệ thẩm quyền của VIAC trong một tranh chấp liên quan đến thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh (NDA), thể hiện sự cởi mở trong cách giải thích tiêu chí “chủ thể tranh chấp” tại khoản 2 Điều 2 Luật TTTM 2010.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thẩm quyền

Thẩm quyền của trọng tài không phải là một phạm trù cố định mà chịu tác động của nhiều yếu tố pháp lý và thực tiễn.

Mat nang luc hanh vi dan su ky thoa thuan trong tai xu ly the nao 1
Người ký kết thoả thuận trọng tài mất năng lực hành vi dân sự

Thứ nhất, hiệu lực của thỏa thuận trọng tài là yếu tố tiên quyết. Một thỏa thuận trọng tài có thể bị vô hiệu do nhiều nguyên nhân được quy định tại điều 18 LTTM 2010, có thể kể đến một số như sau: người xác lập thoả thuận không có năng lực hành vi dân sự, không có thẩm quyền theo quy định pháp luật, thỏa thuận trọng tài không được xác lập thành văn bản, nội dung của thoả thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật, hoặc tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài,..

Và khi thỏa thuận vô hiệu, thẩm quyền của trọng tài đương nhiên không được xác lập, và Tòa án có quyền thụ lý vụ việc.

Thứ hai, không phải mọi tranh chấp đều có thể được giải quyết bằng trọng tài. Các tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân, hôn nhân gia đình, hoặc những lĩnh vực mà pháp luật dành riêng cho Tòa án đều nằm ngoài phạm vi thẩm quyền của trọng tài. Nghiên cứu trên VJOL về việc mở rộng thẩm quyền của trọng tài sang lĩnh vực lao động học hỏi theo pháp luật Trung Quốc, cho thấy đây là vấn đề còn nhiều tranh luận.

Thứ ba, phạm vi thỏa thuận trọng tài quyết định giới hạn nội dung mà Hội đồng trọng tài được phép xem xét. Nếu nguyên đơn khởi kiện những vấn đề nằm ngoài phạm vi thỏa thuận, Hội đồng trọng tài phải đình chỉ giải quyết đối với phần tranh chấp đó.

Thứ tư, yếu tố nước ngoài và quy định của pháp luật nước ngoài có thể ảnh hưởng đến thẩm quyền Trọng tài trong các tranh chấp có yếu tố quốc tế, đòi hỏi Hội đồng trọng tài phải cân nhắc cả quy tắc xung đột pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, như Công ước New York 1958.

4. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Bigboss

Giải quyết tranh chấp tại BBIAC
Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại

Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:

4.1. Điều khoản trọng tài mẫu

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:

(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].**

Ghi chú:
* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

4.2. Điều khoản trọng tài mẫu áp dụng cho thủ tục rút gọn

“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”

Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **

Ghi chú:
* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

5. Kết luận

Tóm lại, thẩm quyền của trọng tài thương mại được xác lập khi các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp và tranh chấp thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Trọng tài thương mại 2010 (Điều 2, Điều 43), với sự hỗ trợ – giám sát của Tòa án theo Điều 414 BLTTDS 2015. Thực tiễn cho thấy trong bối cảnh kinh tế hội nhập, phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài ngày càng được doanh nghiệp lựa chọn.

Bên cạnh khung pháp lý, yếu tố then chốt giúp trọng tài phát huy hiệu quả lại nằm ở chính sự lựa chọn của doanh nghiệp. Khi soạn thảo hợp đồng, các bên nên dành sự quan tâm đúng mức cho điều khoản trọng tài: ghi rõ tổ chức trọng tài có thẩm quyền, số lượng trọng tài viên, địa điểm và ngôn ngữ tố tụng, tránh những câu chữ mơ hồ dễ dẫn đến tranh cãi về thẩm quyền về sau.

Một điều khoản trọng tài được soạn kỹ ngay từ đầu sẽ giúp tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các bên khi tranh chấp thực sự xảy ra. Với đội ngũ trọng tài viên giàu kinh nghiệm, quy trình tố tụng linh hoạt và minh bạch, BBIAC có thể đáp ứng tốt nhu cầu giải quyết tranh chấp đa dạng của doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp thương mại, các bên nên chủ động lựa chọn trọng tài – và Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Bigboss (BBIAC) là một địa chỉ uy tín, chuyên nghiệp mà bạn có thể tin tưởng để được hỗ trợ giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả và đúng pháp luật.

.
Lên đầu trang

Đăng tài liệu

TIÊU ĐỀ BÀI ĐĂNG
NỘI DUNG BÀI ĐĂNG
tải tệp lên (chỉ pdf)
Maximum file size: 256 MB