Bài viết nghiên cứu hệ thống quy định pháp lý và thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản riêng trong tố tụng Trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010 (sửa đổi, bổ sung 2025), Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Tác giả phân tích cơ chế xác định quyền sở hữu đối với tài sản riêng của cá nhân, thương nhân và doanh nghiệp, các phương thức quản lý, bảo vệ tài sản riêng thông qua biện pháp khẩn cấp tạm thời và thi hành án. Bài viết làm rõ những vướng mắc pháp lý phát sinh từ sự nhập nhằng giữa tài sản riêng và tài sản chung, đồng thời tổng hợp các dữ liệu thực tiễn và góc nhìn học thuật uy tín để đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tài phán trọng tài tại Việt Nam.
1. Quy định về tài sản riêng trong trọng tài thương mại
Trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, tài sản riêng đóng vai trò là cơ sở vật chất cốt lõi hình thành nên tư cách pháp lý, năng lực chịu trách nhiệm tài sản và tiềm lực kinh doanh của thương nhân.
Tài sản riêng của cá nhân, tổ chức không chỉ là công cụ tham gia vào các giao dịch hợp đồng thương mại mà còn là đối tượng bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ tài sản khi phát sinh tranh chấp.
Việc xác định đúng đắn quy chế pháp lý về tài sản riêng trong tố tụng Trọng tài thương mại đóng vai trò quyết định đến hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và khả năng thi hành của phán quyết trọng tài.
Về chế định tài sản nội dung, quyền sở hữu đối với tài sản riêng được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật dân sự và thương mại.
Theo khoản 1 Điều 205 Bộ luật Dân sự 2015, sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân. Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng theo ý chí của mình nhưng không được trái pháp luật, gây thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác theo Điều 206 BLDS 2015.
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại, Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 (sửa đổi, bổ sung 2025) ghi nhận thẩm quyền đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại, tranh chấp giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, hoặc tranh chấp khác mà pháp luật quy định.
Cơ sở pháp lý xác lập thẩm quyền đối với tranh chấp liên quan đến tài sản riêng dựa trên Thỏa thuận trọng tài được xác lập hợp pháp theo Điều 5 và Điều 16 LTTTM 2010..
So với tài sản chung, tài sản riêng mang tính độc lập cao trong tố tụng trọng tài. Do mang bản chất sở hữu thuộc về duy nhất một chủ thể, các tranh chấp hợp đồng liên quan đến tài sản riêng ít bị ràng buộc bởi rào cản tố tụng về sự tham gia của bên thứ ba không ký thỏa thuận trọng tài.
Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh rằng, việc cá nhân hoặc doanh nghiệp tự định đoạt tài sản riêng trong các thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng quyền tự do cam kết, thỏa thuận quy định tại Điều 3 BLDS 2015 và Điều 4 LTTTM 2010.
Như vậy, mặc dù Luật TTTM không có điều khoản riêng về “tài sản riêng”, nhưng chế định này hiện diện xuyên suốt trong quá trình tố tụng trọng tài – từ việc xác định tư cách đương sự, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho đến thi hành phán quyết.
Việc nhận diện đúng tài sản riêng là tiền đề để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đồng thời bảo đảm tính khả thi của phán quyết trọng tài.
2. Cách thức quản lý và bảo vệ tài sản riêng
Trong tiến trình tố tụng Trọng tài thương mại, việc quản lý và bảo vệ tài sản riêng của các bên tranh chấp đóng vai trò then chốt nhằm ngăn ngừa hành vi tẩu tán tài sản riêng, bảo đảm khả năng thi hành phán quyết trọng tài và duy trì sự cân bằng quyền lợi giữa các bên.
Thứ nhất, về việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo toàn tài sản riêng.
Nhằm tránh trường hợp bên nghĩa vụ tẩu tán hoặc làm suy giảm giá trị khối tài sản riêng trong thời gian giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài hoặc Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 48, Điều 49 LTTTM 2010 và Điều 414, Điều 415 BLTTDS 2015.
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời phổ biến bao gồm: kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp,… Trước khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản đòi hỏi bên yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm nghĩa vụ tài chính theo Khoản 3 Điều 49 LTTTM 2010.
Thứ hai, về cơ chế thi hành án đối với phán quyết trọng tài liên quan đến tài sản riêng.
Theo Điều 66 LTTTM 2010, khi phán quyết trọng tài có hiệu lực chung thẩm mà bên phải thi hành không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ, bên được thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền cưỡng chế thi hành bằng các biện pháp như kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản,..
3. Các vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản riêng

Mặc dù quy chế pháp lý về tài sản riêng trong tố tụng trọng tài thương mại tương đối rõ ràng, thực tiễn giải quyết tranh chấp vẫn phát sinh nhiều bất cập và điểm nghẽn pháp lý phức tạp .
Vấn đề pháp lý thứ nhất là sự tranh chấp ranh giới giữa tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng trong hoạt động kinh doanh.
Theo Điều 43 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, việc xác định tài sản riêng đòi hỏi phải chứng minh nguồn gốc tài sản riêng (như văn bản thừa kế riêng, hợp đồng tặng cho riêng, hoặc văn bản thỏa thuận chia tài sản chung).
Trong nhiều vụ việc thương mại, thương nhân sử dụng tài sản riêng để đầu tư, góp vốn hoặc bảo lãnh nhưng không lập văn bản phân định rõ ràng với người phối ngẫu, dẫn đến việc người vợ/chồng khởi kiện tại Tòa án yêu cầu tuyên bố tài sản riêng đó là tài sản chung,
Khi đó, thỏa thuận trọng tài do một mình thương nhân ký kết có nguy cơ bị Tòa án tuyên bố không thể thực hiện được hoặc vô hiệu do tranh chấp lúc này đã không thuộc thẩm quyền của Trọng tài theo quy định tại Điều 18 LTTTM 2010 (sửa đổi, bổ sung 2025).
Vấn đề thứ hai là việc bảo vệ tài sản riêng của bên thứ ba trong tố tụng trọng tài. Phán quyết trọng tài chỉ ràng buộc các bên của thỏa thuận trọng tài.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết tranh chấp, bên còn lại có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài, Tòa án thực hiện biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và gây thiệt hại cho người thứ ba, như kê biên tài sản đang do người phải thi hành án chiếm giữ nhưng thực tế thuộc sở hữu của người thứ ba.
Khi đó, theo điều 52 Luật TTTM 2010 (sửa đổi, bổ sung 2025), bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải bồi thường cho bên thứ ba.
Các bài báo khoa học trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp đề xuất cần hoàn thiện pháp luật trọng tài theo hướng quy định rõ cơ chế hỗ trợ của Tòa án trong việc xác minh nguồn gốc tài sản riêng, đồng thời nâng cao trách nhiệm chứng minh của các bên tranh chấp đối với khối tài sản riêng đưa vào giao dịch thương mại.
4. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Bigboss

Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
4.1. Điều khoản trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].**
Ghi chú:
* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
4.2. Điều khoản trọng tài mẫu áp dụng cho thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
5. Kết luận
Quy định về tài sản riêng trong tố tụng Trọng tài thương mại đóng vai trò là điểm tựa pháp lý vững chắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên và bảo vệ quyền sở hữu tài sản riêng hợp pháp của thương nhân.
Việc áp dụng đồng bộ các quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010 (sửa đổi, bổ sung 2025), Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã tạo dựng hành lang pháp lý minh bạch cho Hội đồng trọng tài trong việc phân xử các tranh chấp liên quan đến tài sản riêng.
Để tối ưu hóa hiệu quả trọng tài và hạn chế tối đa các rủi ro pháp lý, các thương nhân cần chủ động xác lập rõ ràng tư cách pháp lý và nguồn gốc của tài sản riêng ngay từ giai đoạn ký kết hợp đồng thương mại.
Đồng thời, việc hoàn thiện các quy định hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về xác định tài sản riêng, kết hợp với việc áp dụng linh hoạt các biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ giúp bảo đảm phán quyết trọng tài được ban hành chính xác, có tính khả thi cao đối với tài sản riêng và thi hành hiệu quả, đóng góp tích cực vào sự phát triển an toàn của môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Vì vậy, khi phát sinh tranh chấp thương mại, các bên nên chủ động lựa chọn trọng tài – và Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế Bigboss (BBIAC) là một địa chỉ uy tín, chuyên nghiệp mà bạn có thể tin tưởng để được hỗ trợ giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả và đúng pháp luật.
