Trong bối cảnh trọng tài thương mại ngày càng được sử dụng như một phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, sự hỗ trợ của Tòa án và cơ quan thi hành án vẫn giữ vai trò quan trọng trong nhiều giai đoạn của quá trình tố tụng trọng tài.
Việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền không chỉ đảm bảo sự phối hợp giữa trọng tài và cơ quan nhà nước mà còn hạn chế tình trạng yêu cầu bị chuyển trả hoặc kéo dài thời gian giải quyết. Nên bài viết tập trung nói về cách xác định thẩm quyền của Tòa án và cơ quan thi hành án đối với hoạt động trọng tài theo Điều 7 và Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010, đồng thời phân tích những điểm cần lưu ý trong quá trình áp dụng các quy định này.
1. Khung pháp lý về thẩm quyền của Tòa án đối với hoạt động trọng tài
Trọng tài thương mại được xây dựng trên cơ sở quyền tự định đoạt của các bên, song điều đó không có nghĩa Tòa án hoàn toàn đứng ngoài quá trình giải quyết tranh chấp.
Trong những trường hợp pháp luật quy định, Tòa án thực hiện vai trò hỗ trợ và giám sát nhất định đối với hoạt động trọng tài, chẳng hạn như chỉ định, thay đổi Trọng tài viên, thu thập chứng cứ, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, triệu tập người làm chứng hoặc xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài. Vì vậy, việc xác định đúng Tòa án có thẩm quyền là điều kiện quan trọng để các hoạt động hỗ trợ tư pháp đối với trọng tài được thực hiện hiệu quả.
Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 thiết lập cơ chế xác định thẩm quyền của Tòa án đối với các hoạt động trọng tài. Điểm đáng chú ý là pháp luật đặt sự thỏa thuận của các bên ở vị trí ưu tiên. Theo khoản 1 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010, nếu các bên đã thỏa thuận lựa chọn một Tòa án cụ thể thì Tòa án được lựa chọn sẽ có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến hoạt động trọng tài.
Quy định này phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt trong tố tụng trọng tài. Các bên không chỉ có quyền lựa chọn trọng tài mà trong phạm vi pháp luật cho phép còn có thể xác định trước cơ quan Tòa án sẽ hỗ trợ hoạt động trọng tài khi cần thiết. Điều này tạo sự chủ động cho các bên ngay từ thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài, đồng thời góp phần hạn chế tranh luận về thẩm quyền khi tranh chấp phát sinh.
Trường hợp các bên không có thỏa thuận lựa chọn Tòa án, khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 đưa ra các tiêu chí khác nhau tùy thuộc vào tính chất của từng yêu cầu. Đây là cách tiếp cận hợp lý bởi các hoạt động hỗ trợ trọng tài có đối tượng và mối liên hệ về địa lý khác nhau.
2. Xác định Tòa án có thẩm quyền theo từng loại yêu cầu
Đối với việc chỉ định Trọng tài viên để thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc, điểm a khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định Tòa án có thẩm quyền theo nơi cư trú của bị đơn nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của bị đơn nếu bị đơn là tổ chức.
Khi có nhiều bị đơn, nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của một trong các bị đơn thực hiện việc chỉ định. Đặc biệt, nếu bị đơn ở nước ngoài thì Tòa án có thẩm quyền được xác định theo nơi cư trú hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn.
Đối với việc thay đổi Trọng tài viên của Hội đồng trọng tài vụ việc, điểm b khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp. Tiêu chí này tạo mối liên hệ trực tiếp giữa Tòa án và hoạt động của Hội đồng trọng tài đang giải quyết vụ tranh chấp.
Đối với khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài liên quan đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được hoặc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, điểm c khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài ra quyết định. Quy định này đặc biệt có ý nghĩa đối với việc phân định ranh giới giữa thẩm quyền của Hội đồng trọng tài và vai trò kiểm soát của Tòa án.
Đối với yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, điểm d khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi có chứng cứ cần được thu thập. Cách xác định này bảo đảm tính khả thi của hoạt động thu thập chứng cứ, bởi Tòa án có thẩm quyền được đặt tại địa bàn nơi chứng cứ tồn tại hoặc được lưu giữ.
Tương tự, đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, điểm đ khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định Tòa án nơi biện pháp cần được áp dụng là Tòa án có thẩm quyền. Trong trường hợp tài sản hoặc đối tượng cần được bảo toàn nằm ở một địa phương cụ thể, việc trao thẩm quyền cho Tòa án tại địa phương đó giúp việc áp dụng biện pháp có điều kiện được thực hiện nhanh chóng và thực tế hơn.
Đối với việc triệu tập người làm chứng, điểm e khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi người làm chứng cư trú. Đây cũng là tiêu chí gắn thẩm quyền của Tòa án với đối tượng trực tiếp cần sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp.
Đáng chú ý, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc được xác định theo một tiêu chí khác. Theo điểm g khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010, Tòa án có thẩm quyền là Tòa án nơi Hội đồng trọng tài đã tuyên phán quyết trọng tài. Đây là một trong những hoạt động có ý nghĩa đặc biệt bởi nó liên quan trực tiếp đến hiệu lực và khả năng được công nhận, thi hành của kết quả giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Từ ngày 01/7/2025, cơ cấu Tòa án có thẩm quyền đối với các hoạt động này đã có sự thay đổi. Theo khoản 3 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 được sửa đổi, bổ sung, các yêu cầu thuộc khoản 1 và các điểm a, b, c, d, đ, e khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực.
Riêng yêu cầu hủy phán quyết trọng tài và đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc theo điểm g khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 thuộc thẩm quyền của một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo phạm vi lãnh thổ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.
Sự thay đổi này cần được đặc biệt lưu ý khi xác định cơ quan có thẩm quyền trong các vụ việc phát sinh từ ngày 01/7/2025. Đối với những thỏa thuận lựa chọn Tòa án được xác lập trước thời điểm này, Nghị quyết số 225/2025/QH15 cũng có quy định chuyển tiếp, theo đó Tòa án được lựa chọn hoặc Tòa án kế thừa quyền, trách nhiệm của Tòa án được lựa chọn tiếp tục có thẩm quyền giải quyết.
3. Thẩm quyền của cơ quan thi hành án đối với phán quyết trọng tài
Nếu Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 chủ yếu điều chỉnh mối quan hệ giữa trọng tài và Tòa án thì Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn thi hành phán quyết trọng tài và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài.
Theo khoản 1 Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài là Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết. Như vậy, tiêu chí xác định thẩm quyền không dựa vào nơi cư trú hoặc trụ sở của bên phải thi hành, mà gắn với địa điểm Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết.
Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài, khoản 2 Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền là cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng.
Hai quy định này cho thấy pháp luật phân biệt rõ giữa thi hành phán quyết trọng tài và thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong trường hợp phán quyết đã được tuyên, thẩm quyền được xác định theo nơi Hội đồng trọng tài ra phán quyết; trong khi đó, đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời, thẩm quyền được xác định theo nơi cần áp dụng biện pháp. Cách thiết kế này hướng tới bảo đảm khả năng thi hành thực tế của các quyết định được ban hành trong quá trình tố tụng trọng tài.
4. Một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng
Điểm đáng lưu ý đầu tiên là không nên đồng nhất địa điểm giải quyết tranh chấp với địa điểm có thẩm quyền của Tòa án trong mọi trường hợp. Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xây dựng nhiều tiêu chí khác nhau tùy thuộc vào từng loại yêu cầu. Chẳng hạn, yêu cầu thu thập chứng cứ được xác định theo nơi có chứng cứ, yêu cầu triệu tập người làm chứng theo nơi người làm chứng cư trú, trong khi yêu cầu hủy phán quyết trọng tài lại được xác định theo nơi Hội đồng trọng tài tuyên phán quyết.
Điểm thứ hai là cần kiểm tra chính xác cấp Tòa án có thẩm quyền, đặc biệt sau những thay đổi về tổ chức Tòa án từ ngày 01/7/2025. Việc vẫn áp dụng cách xác định trước đây là Tòa án nhân dân cấp tỉnh cho toàn bộ hoạt động hỗ trợ trọng tài có thể dẫn đến xác định sai cơ quan có thẩm quyền. Hiện nay, khoản 3 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 đã phân định giữa Tòa án nhân dân khu vực và một số Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Điểm thứ ba là trong quá trình soạn thảo thỏa thuận trọng tài, các bên nên cân nhắc việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền ngay từ đầu nếu có nhu cầu dự liệu trước cơ chế hỗ trợ tư pháp. Việc thỏa thuận rõ ràng có thể hạn chế tranh luận về thẩm quyền sau khi tranh chấp phát sinh, đồng thời giúp các bên chủ động hơn trong việc yêu cầu Tòa án hỗ trợ.
Có thể thấy, Điều 7 và Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010 không làm mất đi tính độc lập của cơ chế trọng tài, mà thiết lập một cơ chế hỗ trợ tư pháp cần thiết để bảo đảm quá trình tố tụng trọng tài có thể vận hành hiệu quả.
Tòa án tham gia trong những trường hợp luật định, còn cơ quan thi hành án bảo đảm khả năng thực thi đối với những kết quả trọng tài đủ điều kiện thi hành. Do đó, việc xác định đúng cơ quan có thẩm quyền không chỉ là vấn đề kỹ thuật tố tụng mà còn tác động trực tiếp đến hiệu quả của toàn bộ cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
5. Cách để giải quyết tranh chấp bằng Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế
Để giải quyết tranh chấp bằng phương pháp trọng tài thương mại tại BBIAC. Quý khách hàng có thể ghi vào hợp đồng 1 trong 2 nội dung sau:
5.1. Điều khoản trọng tài mẫu
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này”.
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) số lượng trọng tài viên là [một hoặc ba].
(b) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(c) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(d) ngôn ngữ trọng tài là [ ].**
Ghi chú:
* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
5.2. Điều khoản trọng tài mẫu theo thủ tục rút gọn
“Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Thương mại Quốc tế BIGBOSS (BBIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này. Các bên thỏa thuận rằng tố tụng trọng tài sẽ được tiến hành theo Thủ tục rút gọn quy định tại Điều 37 của Quy tắc tố tụng trọng tài của BBIAC.”
Ngoài ra, các bên có thể bổ sung:
(a) địa điểm trọng tài là [thành phố và/hoặc quốc gia].
(b) luật áp dụng cho hợp đồng là [ ].*
(c) ngôn ngữ trọng tài là [ ]. **
Ghi chú:
* Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài
** Chỉ áp dụng đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài hoặc tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Liên hệ 0979 133 955 để được tư vấn!
6. Kết luận
Điều 7 Luật Trọng tài thương mại 2010 xây dựng hệ thống tiêu chí tương đối cụ thể để xác định Tòa án có thẩm quyền đối với từng hoạt động hỗ trợ, giám sát trọng tài; trong khi Điều 8 Luật Trọng tài thương mại 2010 xác định cơ quan thi hành án có thẩm quyền đối với phán quyết trọng tài và quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Đặc biệt, sự thay đổi về mô hình Tòa án từ ngày 01/7/2025 đặt ra yêu cầu cập nhật cách xác định thẩm quyền trong thực tiễn. Việc nhận diện đúng loại yêu cầu, đúng tiêu chí lãnh thổ và đúng cấp Tòa án sẽ góp phần bảo đảm tính nhanh chóng, hiệu quả và thống nhất trong quá trình hỗ trợ và thi hành phán quyết trọng tài.
